CHÚA NHẬT 2 THƯỜNG NIÊN B

Lời Chúa: 1Sm 3,3b-10.19; 1Cr 6,13c-15a.17-20; Ga 1,35-42

MỤC LỤC

1. Ơn gọi 2

2. Gặp gỡ Tin Mừng. 3

3. Tôi đă gặp. 4

4. Giới thiệu Chúa cho anh em ḿnh. 5

5. Hăy đến mà xem – Lm. Ignatiô Trần Ngà. 5

6. Hăy đến mà xem – ViKiNi 7

7. "Hăy quên đi cái tôi..." – Lm. Jos Tạ Duy Tuyền. 8

8. Nghề mai mối 9

9. Bước theo Đức Kitô trong cuộc sống hôm nay. 10

10. Ơn gọi – Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm.. 12

11. Chúng tôi đă gặp Đấng Cứu Thế. 14

12. Đáp lời Chúa gọi – Lm. Đam Trần Đ́nh Nhi 15

13. Lắng nghe tiếng Chúa. 16

14. Họ đến và ở lại với Người 17

15. Ở lại với Chúa - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An. 20

16. Tiếng Chúa gọi – AM Trần B́nh An. 22

17. Vai tṛ trung gian. 24

18. Đến mà xem – AM Trần B́nh An. 26

19. Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Văn Nam.. 27

20. Thi hành sứ vụ nhân danh Ngài. 28

21. Chiên Thiên Chúa – Lm Vũ Đ́nh Tường. 29

22. Này Chiên Thiên Chúa – Charles E. Miller. 30

23. Đây là Chiên Thiên Chúa. 31

24. Chúa Nhật 2 Thường Niên. 32

25. Gặp gỡ Đức Kitô. 34

26. Thầy ở đâu - Hăy đến mà xem.. 35

27. Hành tŕnh ơn gọi – ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt 36

4- Giai đoạn bốn: Làm chứng cho t́nh yêu Chúa. 37

28. Chúa kêu gọi con người hợp tác. 38

29. Đối với tôi, Đức Giêsu là ai?. 43

30. Lựa chọn theo Chúa. 44

31. Giới thiệu. 44

32. Hoàn hảo. 46

33. Được kêu gọi để ở lại 48

34. Giới thiệu – Lm Giacôbê Phạm Văn Phượng. 48

35. Cuộc gặp gỡ. 50

36. Các môn đệ đầu tiên - JKN.. 51

37. Đáp lời Chúa kêu gọi - Lm. Minh Vận. 53

38. Bước theo Ngài - Thiện Mỹ. 55

39. Cách thức Thiên Chúa kêu gọi con người 56

40. Hăy đến, xem và ở lại cùng Người 59

41. Đáp trả và sống ơn gọi mỗi ngày. 60

42. Hăy đến mà xem.. 61

43. Môn đệ Chúa Giêsu. 62

44. Ơn gọi - Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT. 63

45. Chúa Nhật 2 Thường Niên. 64

46. Đến và ở lại – Anmai 66

47. Chiến dịch Anrê – Lm. Mark Link. 68

48. Lạy Thầy, Thầy ở đâu?. 70

49. Ơn gọi theo Chúa. 71

50. Hành tŕnh hay là biến đổi 72

51. Chúa Nhật 2 Thường Niên. 74

52. Chú giải của Noel Quesson. 75

53. Điều quan trọng là ḷng tin kiên vững. 78

54. Các môn đệ đầu tiên – Lm. FX. Vũ Phan Long. 80

55. Lắng nghe - Trầm Thiên Thu. 86

 

1. Ơn gọi

Chúa nhật hôm nay có thể được coi là Chúa nhật của ơn gọi.

Thực vậy, bài đọc một ghi lại câu chuyện Chúa gọi Samuel một cách đích danh và cậu đă đáp lại tiếng gọi ấy: Lạy Chúa, xin hăy phán, v́ tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe.

Đoạn Tin Mừng ghi lại câu chuyện Chúa Giêsu thâu nhận những môn đệ đầu tiên, được ghi lại trong Phúc âm theo thánh Gioan, th́ mọi sự dường như đă bắt đầu từ các môn đệ. Các ông đến với Chúa trong những trường hợp khác nhau. Có người đang là môn đệ của Gioan tiền hô. Có người được anh rủ tới. Có người đến với Chúa sau lời giới thiệu: Đây chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian. Cũng có người đến vơi Ngài sau lời xác quyết Ngài là Đấng Messia, Đấng Cứu Thế. Tin Mừng c̣n nói là họ đă đến với Ngài và sau khi đă xem chổ Ngài ở, họ đă ở lại với Ngài.

Chỗ Ngài ở, hiển nhiên không phải là đền đài nguy nga lộng lẫy, bởi v́ chính Ngài đă từng tuyên bố: Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu. Họ đến với Ngài chỉ v́ Ngài và chỉ v́ được Ngài lôi cuốn. Chúa Giêsu đă lôi cuốn họ và sự lôi cuốn này có sức biến đổi hẳn con người của ho.

Chúa Giêsu không muón thực hiện sứ mạng của Ngài một cách đơn độc và lẻ loi, trái lại Ngài luôn mong muốn sứ mạng ấy phải được thực hiện bởi chính Ngài và được tiếp nối bởi những người đă từng chứng kiến những việc Ngài đă làm. Sứ mạng ấy là rao giảng Tin Mừng cứu độ cho mọi người, ở mọi nơi và trong mọi lúc.

Chúng ta cũng đă đến với Chúa qua Bí tích Rửa tội và Thánh Thể. Chúng ta cũng đă trở thành Kitô hữu bằng nhiều cách khác nhau: qua sự giới thiệu của một người bạn hay của một người thân, sau một biến cố đáng ghi nhớ trong đời hay sau khi đọc xong một cuốn sách. Và thông thường nhất đó là chúng ta được diễm phúc sinh ra trong một gia đ́nh Kitô hữu. Vấn để thiết yếu của mỗi người chúng ta, đó là đi theo Chúa và ở lại với Ngài. Nghĩa là trở thành môn đệ của Ngài, trở thành người được Ngài mời gọi và sai đi, trở thành người loan báo Tin Mừng về t́nh thương cứu độ của Thiên Chúa cho mọi người.

Sự gắn bó với Chúa cũng như với lời Ngài, sự lắng nghe để nhận ra ư nghĩa chương tŕnh cứu độ của Chúa trong từng sự kiện, trong gừng biến cố của cuộc sống thường ngay phải là thái độ người môn đệ trung tín của Chúa Giêsu cần phải có.

 

2. Gặp gỡ Tin Mừng

Tin Mừng là để được loan báo, và chia sẻ cho người khác.

Thực vậy, trong đêm giáng sinh, các thiên thần đă loan báo cho các mục đồng: Này tôi báo cho anh em một Tin Mừng trọng đại, cũng là Tin Mừng cho toàn dân: Hôm nay Đấng Cứu Thế đă sinh ra cho anh em trong thành của vua Đavít. C̣n đối với các đạo sĩ Phương Đông, con đường dẫn đến Tin Mừng lại là một ngôi sao lạ xuất hiện trên bầu trời.

Thực vậy, có muôn ngàn cách thế và nẻo đường khác nhau để Thiên Chúa hướng dẫn con người nhận ra Tin Mừng, Lời Chúa hôm nay cũng muốn gợi lên cho chúng ta ư tưởng đó.

Gioan Tiền Hô đă gặp Chúa Giêsu và giới thiệu Ngài cho các môn đệ: Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian. Và các môn đệ đă từ giă Gioan là thầy ḿnh, để đi theo Chúa Giêsu và ở lại với Ngài suốt ngày hôm đó. Rồi đến lượt Andrê đă trở về và dẫn anh ḿnh là Simon đến gặp Chúa Giêsu và đă được Ngài đổi tiên cho ông là Kêpha.

Những cuộc gặp gỡ trong Tin Mừng luôn có những diễn tiến như vậy. Một người nào đó gặp Chúa, họ trở về và loan báo cho người khác. Như các mục đồng chăn chiên, như ba nhà đạo sĩ phương Đông, như Andrê với Simon, như Philipphê với Nathanael...

Hoặc nếu không qua trung gian, th́ chính Chúa Giêsu lại gặp gỡ con người trong chính cuộc sống của họ: Người th́ đang giặt lưới dưới thuyền, kẻ th́ đang trầm tư suy nghĩ dưới gốc cây vả, kẻ khác th́ đang ngồi ở bàn thu thuế hay đang ở trên cây cao như ông Giakêu...

Thiên Chúa luôn đến với chúng ta qua một trung gian: Trung gian của một người đă gặp Chúa, trung gian của một cuộc sống hay của một biến cố nào đó. Có thể nói: Bao nhiêu cuộc gặp gỡ và biến cố trong cuộc sống là bấy nhiêu dịp để nhận ra Tin Mừng, là bấy nhiêu dấu chỉ mời gọi để gặp gỡ Chúa.

Thánh Phanxicô Xaviê đă nhận ra con đường Chúa muốn ngài đi qua lời nhắc bảo của thánh Ignatio: Được lời lăi cả thế gian mà mất linh hồn th́ có ích lợi chi. Thi sĩ Paul Claudel đă nhận ra tiếng Chúa trong tiếng hát của lời kinh Magnificat vào buổi chiều ngày lễ Giáng sinh. Văn sĩ Andrê Frossard cảm nhận được sự hiện hữu của Thiên Chúa qua ánh nến lung linh trên bàn thờ. Đức Hồng Y Lustiger vào năm 14 tuổi, đă nhận ra Đấng Cứu Thế trong một buổi chiều thứ sáu Tuần Thánh. C̣n chúng ta th́ sao?

Chúng ta có nhận ra tiếng Chúa mời gọi qua những biến cố, qua những sự việc của đời thường hay không? Và hơn thế nữa, liệu bản thân và cuộc đời chúng ta có trở nên là một dấu chỉ cho sự hiện diện và t́nh thương của Chúa hay không?

 

3. Tôi đă gặp

Là người đạo gốc, chúng ta vốn thường xuyên đọc kinh xem lễ, nhưng rồi một ngày nào đó chúng ta băn khoăn tự hỏi: Liệu chúng ta đă thực sự gặp gở Chúa hay chưa? Vậy thế nào là gặp gỡ Chúa? Kinh Thánh đă kể lại biết bao nhiêu sự gặp gỡ.

Trong Cựu ước, qua bài đọc một, chúng ta thấy Samuel đă gặp gỡ Chúa ngay từ buổi thiếu thời và đă bước theo tiếng gọi của Ngài trong suốt cuộc đời.

Trong Tân ước, trước tiên là các môn đệ. Các ông đă đi theo Chúa, nhất là khi đă cảm nghiệm được mầu nhiệm Phục Sinh, các ông đă mạnh dạn rao giảng Tin Mừng mặc bao gian truân nguy hiểm trên con đường thực hiện sứ vụ.

Tiếp đến là những người phụ nữ. Chẳng hạn như người đàn bà ngoại t́nh đă được Chúa che chở b́nh an trước những kẻ cực đoan định ném đá chị. Hay như Madalena, ngay từ buổi gặp gỡ Chúa đă đoạn tuyệt với cuộc đời tội lỗi để sống xứng đáng với ơn tha thứ chị đă nhận lănh.

Đặc biệt nhất là thánh Phaolô. Kể từ khi bị ngă ngựa trên đường đi Đamas, ông đă bừng tỉnh. Từ một kẻ say sưa bắt bớ các tín hũu, ông đă trở thành một tông đồ nhiệt thành và xác tín: Đức Kitô sống trong tôi… và không có ǵ tách tôi ra khỏi ḷng mến của Thiên Chúa. Ông đă cảm nhận ḿnh là chi thể của Đức Kitô, là đền thờ của Thiên Chúa, và trong suốt cuộc đời c̣n lại ông đă trung thành với ơn gọi của ḿnh, là đem Tin Mừng đến cho dân ngoại.

Trong lịch sử Giáo Hội, sự gặp gỡ làm thay đổi cuộc đời đă được thể hiện qua h́nh ảnh của thánh Augustinô, thánh Ignatiô và nhiều vị thánh khác. Từ một cuộc sống sa ngă trác táng, họ đă trở nên những con người thánh thiện, nhiệt thành với sự nghiệp Nước Chúa.

Một câu nói của Chúa: Được lời lăi cả thế gian mà mất linh hồn th́ có ích lợi chi, đă làm chuyển hướng cả cuộc đời của Phanxicô. Một câu trong Phúc âm: Hăy bán tất cả, làm phúc cho kẻ nghèo rồi đến mà theo Ta, đă thay đổi hẳn con người của Antôn.

Và gần đây, Mẹ Têrêxa thành Calcutta, mẹ đă gặp Chúa nơi những người nghèo khổ mà mẹ đă đem cả cuộc đời ḿnh để phục vụ. Cha Lelotte trong cuốn “Những người trở lại trong thế kỷ 20” ghi lại hơn ba mươi khuôn mặt từ giám mục, linh mục, tu sĩ đến giáo dân và cả những người ngoài Kitô giáo, cha tŕnh bày kinh nghiệm gặp gỡ Chúa một cách độc đáo, riêng biệt của từng người. Và từ ngày ấy cuộc đời của họ đă biến đổi một cách sâu sắc. Nhưng dẫu bởi cách thức nào đi chăng nữa, th́ qua lần gặp gỡ đầu tiên ấy, tất cả đều cảm nhận được Chúa một cách rất cụ thể, Ngài thực sự hiện diện mà họ có thể nh́n thấy, có thể trao đổi. Đồng thời cũng họ cảm nhận được t́nh thương cao cả của Ngài đối với con người qua h́nh ảnh của Chúa Giêsu, Đấng đă xuống thế, chia sẻ thân phận của con người, chịu mọi khổ nhục và cuối cùng chịu chết trên thập giá để làm chứng cho t́nh yêu.

Qua sự gặp gỡ yêu thương ấy, con người chỉ có một cách đáp trả duy nhất là thực hiện lời dạy của Ngài: Các con hăy yêu thương nhau như Thày đă yêu thương các con.

Đó là một ơn huệ lớn lao và cũng là một đ̣i hỏi triệt để của Chúa đối với con người. Dấu chứng của sự gặp gỡ Chúa là một cuộc sống biến đổi tích cực được thể hiện qua sự an b́nh và t́nh yêu thương. Và như thế, chúng ta đă thực sự gặp Chúa hay chưa?

 

4. Giới thiệu Chúa cho anh em ḿnh

(Trích trong ‘Như Thầy Đă Yêu’ của Thiên Phúc)

Nhiều nhóm binh sĩ có vũ trang từ Syrie xâm chiếm đất Israel. Sau khi bắt dân Israel làm tù binh, chúng tàn phá thành phố và làng mạc. Chúng bắt những tù binh này làm việc như những đầy tớ trên đất Syrie. Trong số những người bị bắt, có một bé gái. Người ta không nói tên của cô ta.

Cô trở thành đầy tớ của viên sĩ quan nổi tiếng người Syrie, tên là Naaman. Vua Syrie rất hài ḷng về Naaman v́ ông là một sĩ quan rất gan dạ. Rủi thay ông vừa mắc bệnh phong.

Một ngày kia, cô tớ gái nói với bà chủ: “Giá mà ông chủ Naamna được gặp tiên tri Elisa, đang sống ở Samaria, th́ ngài sẽ chữa cho ông chủ tôi khỏi bệnh”. Nghe vậy, Naaman xin vua Syrie viết thư giới thiệu cho vua Israel. Ông cũng mang theo vải vóc, vàng bạc làm quà tặng.

Khi vua Israel đọc thư, ông rất lo, v́ ông nghĩ vua Syrie muốn gây chiến. Nhưng Elisa nghe biết, ông xin nhà vua dể ḿnh chữa bệnh cho Naaman. Elisa không gặp Naaman, nhưng chỉ gởi một lá thư: “Hăy đi tắm trong ḍng song Giodan 7 lần và ông sẽ được khỏi”.

Naaman rất tự ái, ông không chịu tắm, nhưng đây tớ khuyên ông cứ làm như lời nhà Tiên tri. Và quả nhiên, Naaman đă được chữa khỏi, da của ông trở nên mịn màng như da đứa trẻ. Naaman dâng cho Elisa quà tặng, nhưng người của Thiên Chúa không nhận, chỉ chúc cho ông “Hăy về b́nh an”.

Chúng ta đừng bao giờ quên đứa tớ gái nhỏ bé ở đầu câu chuyện, em đă mau mắn giới thiệu tiên tri Elisa cho Naaman. Nếu cô bé giữ im lặng, th́ Naaman sẽ không bao giờ được chữa lành.

Hôm nay, Anrê cũng giới thiệu Phêrô em ḿnh cho Đức Giêsu: “chúng tôi đă gặp Đấng Mesia” (Ga 1,41). Rồi dẫn em ḿnh đến gặp Đức Giêsu.

Dường như mỗi lần Tin Mừng Gioan đề cập đến Anrê th́ liền sau đó Anrê lại dẫn một ai đó đến với Đức Giêsu. Anrê đă trở nên nổi tiếng v́ ông đă dẫn cậu bé có “năm chiếc bánh và hai con cá” giới thiệu với Đức Giêsu. Để rồi, sau khi cầu nguyện tạ ơn, Người đă biến bữa ăn trưa của cậu bé trở nên bữa ăn tập thể nuôi sống hơn năm ngàn người.

Lần thứ ba, chúng ta gặp lại Anrê lúc Đức Giêsu vào Giêrusalem lần cuối. Có mấy người Hy Lạp đến xin gặp Người. Cũng chính Anrê là người đă giới thiệu họ với Đức Giêsu. Và chắc hẳn đó là điều làm Người hài ḷng, v́ sau đó Người phán: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32).

Nếu Anrê không giới thiệu Phêrô với Đức Giêsu th́ có lẽ chẳng bao giờ có tông đồ Pherô đá tảng của Hội thánh.

Nếu Anrê không giới thiệu cậu bé có “năm chiếc bánh và hai con cá”, th́ có lẽ chẳng có phép lạ đầy ngoạn mục hứng khởi nhất trong Thánh Kinh.

Vậy bài học của Anrê là hăy giới thiệu cho mọi người đến với Đức Giêsu. Đó là con đường rao giảng từ người này đến người kia, từng người một. Đức Giêsu rất cần những người giàu t́nh bạn chân thành, những bước chân mang dấu vết của thân thiện, những lời nói luôn chứa đầy nhiệt huyết, những chứng nhân ra đi kể câu chuyện: “Chúng tôi đă gặp Đấng Mesia”.

Lạy Chúa, trên trái đất này, chúng con là đôi tay, là tiếng nói, là trái tim của Chúa. Xin cho chúng con trở nên những người nhiệt thành giới thiệu Đức Giêsu cho thế gian. Amen.

 

5. Hăy đến mà xem – Lm. Ignatiô Trần Ngà

Vào khoảng năm 1965 về trước, thời bấy giờ chưa có vô tuyến truyền h́nh, nên mỗi lần có trận giao đấu bóng đá giữa hai đội mạnh, thính giả toàn quốc chỉ được nghe tường thuật về trận đấu qua làn sóng của đài phát thanh.

Thật khó h́nh dung nổi diễn tiến trận đấu với những pha đi bóng gay cấn, những cú sút ngoạn mục khi chỉ được nghe bằng tai.

Hiện nay, chuyện theo dơi trận đấu qua đài phát thanh đă thuộc về quá khứ v́ ưu thế vượt trội của kỹ thuật truyền h́nh. Nhờ đủ dạng sóng truyền h́nh hiện đại bao trùm trái đất, người hâm mộ bóng đá từ phần nửa bên nầy địa cầu có thể chứng kiến, như thể tận mắt, từng chi tiết, từng pha đi bóng của những cầu thủ trong những trận đấu diễn ra ở nửa bên kia trái đất.

Thế là từ khi có truyền h́nh, không ai mê bóng đá lại theo dơi trận đấu qua đài phát thanh nữa. Từ kỹ thuật truyền thanh chuyển qua truyền h́nh là cả một bước tiến vượt bậc.

* * *

Tiến tŕnh mặc khải cũng trải qua hai chặng đường như thế.

Khởi đầu, Thiên Chúa không trực tiếp tỏ ḿnh cho loài người nhưng chỉ phán dạy qua các ngôn sứ, - như thể qua xướng ngôn viên trên các đài phát thanh - nên chân dung của Thiên Chúa c̣n rất mờ mịt đối với loài người.

"Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đă phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ" (Dt 1,1a).

Tiến sang giai đoạn hai, Thiên Chúa không c̣n mặc khải Người bằng lời qua trung gian các ngôn sứ nữa, nhưng đă bày tỏ chính Ḿnh qua Con chí ái là Đức Giêsu Kitô.

"Nhưng vào thời sau hết nầy, Thiên Chúa đă phán dạy chúng ta qua Thánh Tử." (Dt 1,1b)

Thế là từ đây, Lời của Thiên Chúa - tức Ngôi Lời - không c̣n là tiếng nói từ cơi xa xăm vọng lại, nhưng đă mặc lấy một h́nh hài, một thân xác để cho mọi người không những được nghe tiếng mà c̣n có thể nh́n ngắm, đụng chạm, tiếp xúc với Ngôi Lời.

"Ngôi Lời đă trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta." (Ga 1,14)

"Người là h́nh ảnh trung thực của Thiên Chúa" (Dt 1,3)

Thế là chương tŕnh mặc khải của Thiên Chúa đă chuyển sang một khúc quanh mới: giai đoạn mặc khải qua h́nh ảnh, qua chân dung - như kỹ thuật vô tuyến truyền h́nh hiện nay - đă khai mở. Nhờ đó, nhân loại không những có thể "nghe", mà c̣n "thấy tận mắt, được chiêm ngưỡng và được chạm đến Lời" của Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô. (thư IGa 1,1)

* * *

Hăy đến mà xem

Trăm nghe không bằng một thấy. Nghe tường thuật về một trận bóng sao bằng tận mắt xem trận đó, ít nữa qua chiếc TV.

Chính v́ thế nên khi Anrê và một môn đệ khác của Gioan Tẩy Giả được giới thiệu cho biết Đức Giêsu là chiên Thiên Chúa, hai ông liền t́m gặp Chúa Giêsu để t́m hiểu Người.

Chúa Giêsu quay lại hỏi: "Các anh t́m ai?". Họ thưa Ngài: "Thưa Thầy, Thầy ở đâu?". Chúa Giêsu đáp: "Hăy đến mà xem".

Hai anh em nầy đến với Chúa Giêsu, ở lại với Người, rồi mới sống gắn bó và trở thành môn đệ của Người.

* * *

Chúa Giêsu mời gọi "hăy đến mà xem", nhưng chúng ta có thể nh́n xem Chúa ở đâu?

Trước hết là trong Kinh Thánh. Thánh Giêrônimô dạy: "Không biết kinh thánh là không biết Chúa Giêsu". Từng trang, từng ḍng trong kinh thánh đều hoạ lại chân dung Chúa Giêsu và âm vang lên sứ điệp của Người. Biết bao nhiêu người nhờ thường xuyên nh́n ngắm cuộc đời và lắng nghe lời dạy của Chúa Giêsu trong Tân Ước, dưới sự soi sáng của Chúa Thánh Thần, đă được diễm phúc cảm nghiệm được Chúa là Đấng tuyệt vời khôn tả.

Dostoievski, đại văn hào trứ danh người Nga ở thế kỷ 19, cũng là ngôi sao sáng trong trong làng văn học thế giới, từng viết nhiều tác phẩm đồ sộ có giá trị vượt thời gian và không gian, thường chiêm ngưỡng Chúa Giêsu trong Tin Mừng nên mới cảm nhận được nét đẹp cao quư tuyệt vời của Chúa Giêsu và đă tuyên xưng Người qua bức thư gửi cho bà Von Vizine. Bức thư nầy thường được gọi là kinh tin kính của Dostoievski: "Đối với tôi, không có ǵ đẹp đẽ, sâu xa, dễ mến, hợp lư và hoàn hảo cho bằng Đức Kitô, và hơn thế nữa, nếu ai chứng minh với tôi rằng Đức Giêsu ở ngoài chân lư, th́ tôi không ngần ngại chọn ở lại với Đức Kitô hơn là chiều theo chân lư".

Ước ǵ chúng ta thường xuyên "đến mà xem" Chúa Giêsu trong kinh thánh, "ở lại với Người" nơi bí tích thánh thể, để rồi say mê Người như Dostoievski và trở thành môn đệ Người như Anrê và người bạn của ông.

 

6. Hăy đến mà xem – ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

Đức Giêsu nói với mấy anh thanh niên: “Hăy đến mà xem”. Tôi tự hỏi, lúc đó Chúa Giêsu là người lang thang không nhà, không cửa, “không có ḥn đá gối đầu”, thế mà Người lại gọi họ theo Người. Khi họ hỏi: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu”, Chúa nói: “Hăy đến mà xem”. Xem ǵ? xem ḥn đá gối đầu ư? xem một người cùng khổ ư? Thật là bạo phổi, nếu không phải là vớ vẩn!

Nhưng không, không phải đến xem ḥn đá, mà là nh́n kỹ một người sống mạnh mẽ. Không phải xem người cùng khổ, nhưng thấy một tấm ḷng cao cả, thương yêu những người cùng khổ.

Xưa cũng như nay, người ta chỉ tin những ǵ xem bằng mắt, bắt bằng tay. Họ đă nói: Trăm nghe không bằng một thấy, đừng nghe những ǵ nó nói, phải nh́n kỹ việc nó làm. Khổng Tử cũng dậy môn đệ: “Thị kỳ sở dĩ, quan kỳ sở do, sát kỳ sở an, nhơn yên sưu tai?” – Hăy nh́n kỹ cách họ làm, quan sát do đâu họ làm, cứu xét việc có an lành không? Họ làm có yên vui không? (Luận ngữ II, 10).

Để xác nhận một lư thuyết là chân thực, các nhà khoa học đ̣i phải được thí nghiệm và kiểm chứng.

Quan sát, suy nghĩ và hành động là phương châm khôn ngoan. Đức Giêsu muốn gọi Gioan và Anrê làm môn đệ, Người muốn họ phải biết sống theo phương châm khôn ngoan ấy, chứ không phải theo Người cách mù quáng.

Sau những lời giới thiệu của vị Tiền Hô, chắc mấy anh thanh niên đó đă thảo luận nhiều về Đức Giêsu: Đấng Chiên Thiên Chúa. Dầu vậy, mấy anh c̣n phải tiếp xúc trực tiếp với Người. Phải quan sát Người với tất cả trí óc, con tim và ư chí của các anh. Các anh đă thấy Người sống với các anh rất giản dị, chân thành, siêu thoát, hiền ḥa khả ái, trong buổi chiều thanh b́nh êm đềm, thân mật để cho từng lời nói, từng việc làm và nhất là tâm t́nh của Người như một cuốn phim diễn ra trước khối óc, con tim, chứ không phải chỉ xem bằng mắt, bắt bằng tay của giác quan tầm thường. Lúc đó, Thần khí t́nh yêu thanh khiết, nồng nàn của Người như men thơm dậy hương đậm đà trong ḷng ḿnh. Chân lư cao cả nhiệm mầu của Người như ánh sáng chiếu tỏa rạng ngời trong tâm trí ḿnh. Và sức sống mănh liệt của Người như máu đào tươi sống dạt dào chảy tràn vào con tim ḿnh. Toàn diện con người các anh đă thấm nhuần tinh thần cao siêu lạ lùng của Người. Mỗi người các anh đă cảm động và vui mừng thốt lên: “Lạy Thầy, con theo ai được! V́ chỉ Thầy mới có lời ban sự sống trường tồn” (Ga. 6, 68).

Các anh đă thành môn đệ nghĩa thiết và chứng nhân trung tín của Đức Giêsu, “v́ ngay sáng hôm sau, Anrê đă đi t́m em ḿnh là Simon và nói: Chúng tôi đă gặp Đấng Mesia (tức là Đấng Kitô). Rồi kéo em đến gặp Đức Giêsu. Đức Giêsu nh́n Simon và nói: Anh là Simon, con ông Giona, anh sẽ được gọi là Kêpha, tức là Phêrô”.

Đức Giêsu đă kêu tên Simon thân mật như bạn hữu và đă đổi tên tục Simon thành danh hiệu Phêrô nghĩa là Đá tảng.

Như vậy, bài Tin mừng hôm nay tŕnh bày một đường lối trực tiếp gặp gỡ Chúa, cho ta khám phá thấy ơn Chúa gọi ta để ta quyết tâm theo Chúa.

Lời Chúa hôm nay c̣n cho ta thấy, trước khi được trực tiếp gặp Chúa, ta cũng cần nhiều trung gian hướng dẫn, giới thiệu cho ta đến với Chúa. Vị tiền hô đă giới thiệu cho Gioan và Anrê đến theo Chúa.

Rồi Anrê lại giới thiệu cho Simon được gặp Chúa. Ngôn sứ Samuen đă kể lại kinh nghiệm đó trong bài đọc 1. Khi c̣n nhỏ, Samuen đă sống với thầy tư tế Hêli trong đền thờ, được thầy huấn luyện và dạy dỗ về Thiên Chúa, Samuen đă trở thành cậu bé rất đạo đức tốt lành. Cậu ngủ trong đền thờ, bên ḥm bia Thiên Chúa, được Chúa gọi bốn lần, cậu đều mau mắn thức dậy thưa: Dạ, con đây và lanh lẹ chạy đến thầy Hêli ba lần v́ tưởng thầy gọi. Lần thứ bốn Chúa gọi, cậu vẫn không mê ngủ, không cựa quậy, tỉnh dậy ngay, kính cẩn thưa như thầy Hêli dạy: “Lạy Chúa, xin Chúa phán v́ tôi tớ Chúa đang lắng nghe”.

Ước chi những cậu bé của chúng ta được như Samuen, đồng thời chúng ta phải nỗ lực huấn luyện con em ḿnh biết luôn luôn kính cẩn cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin Chúa phán v́ tôi tớ Chúa đang lắng nghe”.

Biết lắng nghe lời cha mẹ, lắng nghe lời linh mục, lắng nghe giáo lư, lắng nghe lời Chúa, mới được Chúa đến mời gọi: “Hăy đến mà xem”.

Bài đọc hai, thánh Phaolô đă hướng dẫn tín hữu giáo đoàn Côrintô khám phá và gặp gỡ Chúa trong chính bản thân ḿnh. Nhưng điều thiết yếu là thân xác ta không được dùng để gian dâm, mà chỉ để phụng sự Chúa, lư do là Chúa làm chủ bản thân ta, đă mua chuộc ta bằng giá rất đắt. Chỉ như thế, ta mới khám phá thấy bản thân ta là chi thể của Đức Kitô, là đền thờ Chúa Thánh Thần ngự, khiến ta được kết hợp với Chúa nên một tinh thần, cho ta xứng đáng tôn vinh Thiên Chúa, và được sống lại với Đức Kitô.

Lạy Chúa, ơn kêu gọi chúng con thật cao cả quư giá vô cùng. Xin cho chúng con biết đến mà xem Chúa trong bản thân chúng con, xem Chúa trong mọi người, xem Chúa trong chính Đấng Mesia, chúng con mới mong khám phá ra ơn Chúa gọi chúng con. Đến gặp gỡ Chúa, sống nghĩa thiết với Chúa, hiệp thông sự sống dồi dào của Chúa và được chia sẻ sứ mạng cứu độ muôn dân của Chúa.

 

7. "Hăy quên đi cái tôi..." – Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Có một bài hát sinh hoạt quen thuộc vẫn mời gọi chúng ta: "Hăy quên đi cái tôi để mang Chúa đi vào đời". Xem ra để mang Chúa vào đời phải quên đi cái tôi của riêng ḿnh để sống cho Thiên Chúa. Xem ra để mang Chúa vào đời phải từ bỏ tham vọng của cái tôi ích kỷ để Chúa được lớn lên trong đời sống chứng nhân của chúng ta. V́ ở đời ai cũng thích danh vọng. Ai cũng mong cho ḿnh được nổi tiếng, được trở thành ân nhân của xă hội. Xem ra từ thích danh vọng đến hám danh hám lợi thật gần, gần đến nỗi nhiều người đă trơ trẽn nhận phần vinh quang về ḿnh, cho dù vinh quang đó không do công của ḿnh.

Ngày nay ai cũng sợ bệnh thành tích. V́ nó là nguyên nhân dẫn đến ham danh hăo huyền. V́ nó là nguyên nhân dẫn đến biết bao tiêu cực bởi sự gian dối, lường gạt. Những con người ham danh thường là sống giả dối, thiếu chân thật. Những con người ham danh thường t́m vinh quang về ḿnh. Thích được tán thưởng. Thích được biết ơn. Nhưng đôi khi họ chỉ là một loại Lư Thông cướp công Thạch Sanh như trong truyện dân gian Việt Nam.

Có một nhà truyền giáo tâm sự rằng: ngài đă từng truyền giáo tại Đông Timor. Đó là một đất nước nghèo nàn và lạc hậu. Người dân c̣n thiếu rất nhiều phương tiện tối thiểu của cuộc sống. Ngài đă vận động rất nhiều các cá nhân và tổ chức từ thiện ở mọi nơi để giúp đỡ cho người dân Đông Timor. Nhiều nơi hưởng ứng và nhờ đó ngài đă có rất nhiều tặng phẩm để tặng cho người nghèo. Tự nhiên ngài được người dân kính nể, yêu mến và biết ơn. Thế nhưng, ngài lại mắc cở khi được người đời ca tụng. V́ ngài biết rất rơ, ngài chỉ là kẻ phân phát, là trung gian chứ không phải là chủ nhân. Ngài chẳng có chỉ ngoài đôi tay để đón nhận và trao ban. Ngài không có quyền nhận cái không phải của ḿnh. V́ tiền bạc, của cải là của những nhà hảo tâm trao cho ngài để ngài trao đến cho anh em nghèo khó. Từ đó, ngài đă rút ra kinh nghiệm rằng: cái khó của người làm công tác từ thiện là làm sao đửng nhận ḿnh là người ban phát, đừng tưởng rằng những tặng phẩm đó là của ḿnh cho người nghèo. Hăy khiêm tốn đừng nhận phần đó về ḿnh là những lời khen, những lới tán dương... Hăy biết cho đi cả danh dự của ḿnh, vinh quang của ḿnh. Hăy tự biết ḿnh chỉ là tôi tớ hèn mọn được Chúa sử dụng mang lại niềm vui cho những anh em nghèo khó.

Đó cũng là cung cách của thánh Gioan Baotixita. Ngài luôn sống khiêm tốn trước mặt mọi người. Ngài đă từng không dám nhận phần vinh dự về ḿnh, khi ngài nói: "Có Đấng đến sau tôi. Ngài cao trọng hơn tôi. Tôi không đáng cởi dây giầy cho Người". Ngài đă từng mong ước cho đời sống chứng nhân của ngài luôn "nhỏ bé để Chúa được lớn lên". Ngài chỉ muốn những việc ngài làm sẽ dẫn người khác đến với Chúa. Ngài muốn dùng cuộc đời chứng nhân của ḿnh để tôn vinh Thiên Chúa.

Hôm nay, ngài cũng sẵn sàng để các môn đệ của ḿnh đến với Chúa. Ngài không dám giữ các môn đệ cho riêng ḿnh. Ngài đă giới thiệu cho các môn đệ về danh tính của Đấng Messia. Đây mới chính là Chiên Thiên Chúa. Đây mới xứng đáng là Thầy mà các ngươi cần đi theo. Ngài sẵn ḷng để các môn đệ ra đi. Ngài biết phận ḿnh chỉ là kẻ dọn đường cho Đấng Cứu Tinh nhân trần.

Ước ǵ ở đời có nhiều tâm hồn quảng đại sẵn ḷng dấn thân làm chứng cho tin mừng của Chúa nhưng vẫn luôn khiêm tốn và ẩn ḿnh đi. Dấn thân một cách vô vị lợi. Dấn thân một cách quên ḿnh. Dấn thân để tôn vinh Thiên Chúa, chứ không tôn vinh ḿnh. Dấn thân để làm vinh quang Thiên Chúa, chứ không nhằm rạng danh ḿnh. Dấn thân để mang anh em đến với Chúa, để tạ ơn và chúc tụng Thiên Chúa, chứ không phải đến với ḿnh để tâng bốc tán dương. Ước ǵ mỗi người chúng ta luôn có ḷng quảng đại để cho đi cái riêng của ḿnh để làm giầu có cho Thiên Chúa, như Gioan đă cho các môn đệ đến với Thầy Giêsu, như Anre đă mang em ḿnh là Simon đến với Chúa. Ước ǵ chúng ta luôn nhỏ bé, khiêm tốn, đừng đề cao ḿnh quá đáng, đừng t́m cách tán dương ḿnh mù quáng. Hăy để những công việc ḿnh làm cho danh Chúa được cả sáng.

Lạy Chúa, ở đời ai cũng thích được tán dương, được khen thưởng, được đề cao giữa mọi người. Người đời thường đua nhau danh vọng. Chính v́ vậy mà cuộc đời không thiếu những thị phi, những bất công... Xin cho chúng con luôn khiêm tốn, bé nhỏ để Chúa được lớn lên trong cuộc đời chúng con. Amen.

 

8. Nghề mai mối

(Suy niệm của Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

Chuyện cưới xin ngày xưa ở Việt Nam thường lệ thuộc vào ông mai bà mối. Ông mai bà mối được xem là một nghề. Khi nhà trai muốn kiếm vợ cho con. Họ cần một bà mai để kiếm vợ cho con. Họ nhờ vả bà mai kiếm cho họ một cô con dâu vừa đẹp vừa ngoan. Có khi gia đ́nh nào có con gái đến tuổi cập kê kiếm chồng không ra, hay gọi nôm na là ế chồng th́ cũng nhờ đến bà mai. Sở trường nổi bật của bà mai là phải thật dẻo mồm dẻo miệng, nói dở thành hay, mới hy vọng kết mối tơ duyện cho đôi vợ chồng.

Điều hay nơi các bà mai mối thường đóng vai tṛ con thoi khiêm nhường. Nhiệm vụ của họ chỉ là giới thiệu hai gia đ́nh quen biết nhau, đốc thúc gặp gỡ để hai họ đi đến việc thăm viếng làm quen rồi đề nghị đám hỏi, đám cưới...

Theo thời gian, với cuộc sống hiện đại, khi các mối quan hệ ngày càng mở rộng, toàn cầu, con người sẽ dễ dàng t́m được bạn đời ưng ư, song thực tế, chuyện mai mối vẫn là điều đang diễn ra hàng ngày, chỉ có điều ở h́nh thức khác, hiện tượng khác hơn và ông tơ bà mối cũng khác hơn ngày xưa.

Có một người bạn tâm sự: “Hôm vừa rồi, ḿnh vừa giới thiệu cô bạn thân với anh bạn đồng nghiệp. Tưởng chỉ làm bạn, ai dè thành đôi đấy. Cũng khá đẹp đôi với nhau. Mà ḿnh cũng mát tay thật. Đây là đôi thứ 3 đấy. Cứ không ngờ mà lại thành thật. Hai đôi trước cưới nhau rồi. Mà toàn là bạn thân thiết của nhau cả. Cũng thấy vui vui v́ đă làm được điều có ích”.

Sự khác biệt của ông tơ bà mối ngày nay không c̣n là một nghề nữa, nhưng nó lại đa dạng nơi mọi thành phần. Có thể là một người bạn, người anh, người chị, thậm chí là một chiếc điện thoại, máy tính cũng thành bà mối t́nh duyên.

T́nh yêu Thiên Chúa đến với con người cũng cần ông mai bà mối. Thiên Chúa cần một ai đó để giới thiệu về t́nh yêu Chúa cho con người. Thiên Chúa cần một bà mối nói thật hay, sống thật tốt để giới thiệu Chúa cho anh em của ḿnh. Thiên Chúa cần chúng ta giới thiệu Chúa cho anh em lương dân đang sống bên cạnh ḿnh. Hăy nói về t́nh yêu của Chúa. Hăy mạnh dạn giới thiệu Chúa đến cho bạn bè, cho đồng nghiệp và cho anh em của ḿnh.

Ngày xưa là thời các nhà truyền giáo làm nghề giới thiệu Chúa, hôm nay không c̣n các nhà truyền giáo chuyên biệt mà là từng người chúng ta. Mỗi người phải có bổn phận làm ông mai bà mối cho anh em, bè bạn của ḿnh.

Thánh Gioan Tẩy Giả cũng từng là ông mai bà mối cho Đấng Cứu Thế. Gioan đă giới thiệu Chúa cho hàng ngàn người đang đứng bên ông. Ông tận dụng thời cơ để nói về Chúa cho các môn đệ của ḿnh, cho bà con láng giềng của ḿnh, và cho cả dân tộc của ông.

Thiên Chúa là Đấng quyền năng, Ngài có thể tự tỏ ḿnh ra cho nhân loại. Ngài không cần sự trợ giúp của con người. Thế nhưng, Ngài đă không tự biểu dương ḿnh. Ngài cần người giới thiệu. Ngài muốn con người là nhịp cầu cho Ngài đến với nhân loại. Nếu con người cảm nghiệm t́nh yêu ngọt ngào từ Ngài th́ hăy giới thiệu t́nh yêu ấy cho nhiều người khác. Nếu con người cảm thấy t́nh yêu quan pḥng kỳ diệu của Ngài th́ hăy tuyên xưng Ngài cho thế trần. Đây là bổn phận của ḷng biết ơn. Đây là cách chúng ta tỏ bày ḷng biết ơn của ḿnh với Đấng tạo thành khi đă nhận ơn của Ngài.

Thế nên, , không phải chỉ Gioan mới được Chúa mời gọi làm người “mai mối” cho Ngài đến với nhân loại. Không phải chỉ Gioan mới có khả năng làm chứng cho Thiên Chúa, mà tất cả những ai mang danh kitô hữu. Qua bí tích rửa tội đều được mời gọi làm chứng cho Chúa. Làm chứng bằng lời nói và bằng cả hành động. Hăy mạnh dạn nói về Chúa. Hăy chia sẻ niềm vui làm con Chúa cho tha nhân. Nhất là hăy sống một đời nhân chứng khi biết nói không với tội lỗi, khi biết vượt lên những bon chen tầm thường để chọn Chúa làm gia nghiệp. Và chắc chắn điều mà chúng ta có thể thuyết phục tha nhân tin theo Chúa là hết ḿnh sống v́ Tin mừng qua giới luật yêu thương.

Ước ǵ chúng ta biết noi gương bắt chước thánh Gioan luôn nói về Chúa trong mọi hoàn cảnh. Trong hoang địa hay đường phố. Nơi người thân hay người xa lạ. Hăy tận dụng mọi hoàn cảnh Chúa ban để làm chứng nhân cho t́nh yêu của Chúa. Amen.

 

9. Bước theo Đức Kitô trong cuộc sống hôm nay

(Suy niệm của JB. Nguyễn Quốc Tuấn)

Cuộc sống hôm nay đang đặt ra cho người Kitô hữu rất nhiều chọn lựa: chọn lựa giữa niềm tin vĩnh cửu với sự hấp dẫn kỳ thú của những thành tựu vĩ đại do nền khoa học kỹ thuật tiên tiến mang lại, giữa hành vi buông thả, tự do quá trớn với thái độ đúng mực theo nền tảng luân lư truyền thống, nhất là sự cân nhắc chọn lựa giữa các “thần tượng” trần thế với lời mời gọi lư tưởng đến từ thập giá Đức Kitô… Dưới ánh sáng Lời Chúa, chúng ta bắt gặp được câu trả lời thỏa đáng cho những chọn lựa ấy. Tin mừng Ga 1, 35 – 42 đă gợi lên cho chúng ta kinh nghiệm đáp trả đích thực của người môn đệ Chúa trước lời mời gọi của Đức Kitô.

1. Tiếng gọi từ thập giá

Gioan Tiền hô đă không giới thiệu Đức Giêsu “với hai người trong nhóm môn đệ” như là vị vua hùng dũng sẽ đem vinh quang cho toàn cơi Israel ở phương diện trần thế, nhưng “là Chiên Thiên Chúa” (Ga 1, 36b). Khi nghe biết tước hiệu của Đấng đang “đi ngang qua” là “Chiên Thiên Chúa”, chắc hẳn hai môn đệ của Gioan (Anrê và một môn đệ khác) không khỏi sững sờ và kinh ngạc về vai tṛ và vị thế của Đức Giêsu trong chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa. Lời giới thiệu của Gioan mở ra bước ngoặt trọng đại có liên quan đến sứ vụ của các ông và toàn nhân loại. Cũng chính trong thời điểm ấy, hai môn đệ của Gioan đă lắng nghe “tiếng gọi từ phía bên trong”, nhắc bảo các ông hăy bước theo Đấng cứu độ đích thật, là “Đấng Thiên Chúa tuyển chọn”, “Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần” (Ga 1, 33b). Nghiệm thấu điều này, hai môn đệ “liền đi theo Đức Giêsu” với tất cả niềm tín thác và hy vọng về giá máu cứu độ của “Chiên Thiên Chúa”. Hành tŕnh sứ vụ trước mắt các ông là chặng đường đau khổ để minh chứng cho sự chọn lựa đúng đắn của ḿnh vào thập giá Đức Kitô. Với tất cả t́nh yêu tận hiến, hai môn đệ của Gioan đă trở thành những môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu.

Tiếng gọi từ thập giá vẫn vang vọng trong tâm thức của người Kitô hữu hôm nay và với hết thảy những ai đang hướng chiều về Đấng là “Chiên Thiên Chúa” đang “đi ngang qua” đời họ với bao nỗi niềm buồn vui, khổ đau, hạnh phúc… Có khi, dường như ta đă tỏ ra e sợ trước những khổ đau đến từ thập giá. Có lúc, người mang danh kitô hữu lại nhát đảm, thậm chí khước từ, chạy xa khỏi mối dây thông hiệp với cuộc khổ nạn, phục sinh của “Chiên Thiên Chúa” trước những đắng cay, nghiệt ngă của cuộc lữ lành đức tin. Giữa bộn bề, ngổn ngang của bao định hướng, lựa chọn và những áp lực, cám dỗ của lối sống h́nh thức, tiếng gọi từ thập giá nhiều khi bị ch́m lắng và có nguy cơ tan biến trong tâm khảm chúng ta…Hệ quả là, ta phải đứng giữa trăm chiều do dự, lần ṃ giữa mục tiêu tối hậu với những phương tiện tạm thời, làm cản lối về vinh quang đích thực chỉ có thể t́m thấy nơi thập giá Đức Kitô.

Thái độ đáp trả của hai môn đệ mời gọi ta hăy dứt khoát, can đảm bước ra khỏi lối mờ tối của những lựa chọn và hướng thắng về phía thập giá, ở đó, “Chiên Thiên Chúa” là mẫu h́nh lư tưởng nhất cho đời ta. V́ chỉ nơi “Chiên Thiên Chúa”, ta mới được biến đổi trong tiến tŕnh hoán cải nội tâm thực sự, nhờ hiệu quả “từ nguồn sung măn của Người, tất cả chúng ta đă lănh nhận từ ơn này đến ơn khác” (Ga 1, 16).

2. Sống với Đức Kitô

Bước theo Đức Kitô, cũng có nghĩa là chúng ta biết đáp trả cách nhiệt thành và kiên trung trước tiếng gọi từ thập giá. Như hai môn đệ của Gioan, sau khi đă nghe Gioan giới thiệu Đấng “là Chiên Thiên Chúa”, hai ông đă không hề do dự nhưng đă hoàn toàn dứt bỏ lối cũ và nhất mực bước đi theo Người, để sống với Người. Câu hỏi của các ông, “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?” (Ga 1, 38b), hàm ẩn niềm khát khao kiếm t́m tận căn thân thế và hành động yêu thương của “Chiên Thiên Chúa” khi Người cứu độ nhân loại. Được t́nh yêu cứu độ thúc bách, các ông đă “đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người” (Ga 1, 39b). Để từ đây, “hai người trong nhóm môn đệ” của Gioan có thể thông dự vào đời sống thần nhiệm sâu xa và sung măn của Đức Kitô, nhờ ḷng tin và t́nh yêu tận hiến cho vinh quang thập giá.

Đời sống của người kitô hữu là một tiến tŕnh bền bỉ, liên tục kết hiệp mật thiết và sinh động với sự sống của Đức Kitô. Dấu chứng cho sự kết hiệp này được biểu tỏ qua thái độ hy sinh trao hiến của chúng ta như hệ quả do bởi giá máu cứu chuộc của Con Chiên Thiên Chúa. Dù phải đối diện với những chọn lựa đầy khó khăn, người tông đồ của Đức Kitô hôm nay cũng được mời gọi đáp trả tiếng Chúa qua hành động kiếm t́m và “ở lại” trong t́nh yêu của Người.

Sống với Đức Kitô là cảm thông, sớt chia và làm triển nở t́nh yêu cứu độ của Người. Hôm nay, ta không thể “đến xem chỗ Người ở” cách thể lư, nhưng mỗi người chúng ta là thành viên chính thức, được hạnh phúc thông dự vào “Ngôi Nhà” Giáo hội do Đức Kitô thiết lập nên, là chính Nhiệm Thể của Người. Do đó, khi ta chu toàn sứ vụ của một chi thể ngay giữa ḷng Giáo hội th́ ta cũng đồng thời được kết hiệp với sự sống trọn hảo của Đức Kitô.

Sống với Đức Kitô, là tháp hiệp vào trong từng hơi thở, trong ánh mắt yêu thương, trong mỗi cử chỉ, hành vi trao hiến của Người. T́nh yêu của Đấng “là Chiên Thiên Chúa” sẽ hiển trị khi ta biết mở rộng cơi ḷng để đón nhận và đỡ nâng biết bao phận người đang bị vùi dập giữa những khổ đau của kiếp nhân sinh. Như Đức Kitô, ta hăy dơi ánh mắt yêu thương về phía hận thù và hăy nói lời thứ tha được khởi phát từ con tim dạt dào Đức ái trong ta. Như Đức Kitô, ta hăy cúi xuống và vực dậy nhân loại hôm nay đang cố rời xa những chuẩn mực nền tảng của Tin Mừng.

Ta hăy “ở lại” với Đức Kitô trong nhiệm tích Thánh Thể, để được thông truyền sự sống và t́nh yêu tuyệt hảo, nhờ đó, ta có được sức mạnh thần linh để sống chứng nhân cho Người trong cuộc sống hôm nay.

3. Chứng nhân cho Đức Kitô

Theo lời mời gọi của Đức Giêsu, Anrê và người môn đệ ẩn danh không chỉ “đến xem” và “ở lại với Người ngày hôm ấy” (Ga 1, 39b), nhưng các ông đă báo tin vui cho Si-mon và những người khác: “Chúng tôi đă gặp Đấng Mê-si-a” (Ga 1, 41b). Như vậy, được sống với Đức Giêsu dù chỉ trong khoảng khắc ngắn ngủi của buổi đầu gặp gỡ, các môn đệ đầu tiên đă thấu cảm gương mặt đích thực của “Chiên Thiên Chúa” như lời giới thiệu của Gioan. Các ngài đă được biến đổi thành những tông đồ thực thụ nhờ được “ở lại” trong t́nh yêu của Đức Kitô. T́nh yêu ấy thúc bách các ngài tiến xa hơn trên hành tŕnh sứ vụ giới thiệu “Chiên Thiên Chúa” cho muôn người, dẫu phải trả giá bằng chính mạng sống của ḿnh.

Bước theo Đức Kitô trong cuộc sống hôm nay, chúng ta cũng được mời gọi trở nên chứng nhân trung thành của Người trước một nhân loại đang tỏ ra lănh đạm với chân lư và mục tiêu tối hậu. Trong bối cảnh ấy, tiếng gọi từ thập giá vẫn không ngừng âm vọng trong cơi sâu thẳm của con người, kêu mời sự dấn thân quả cảm của những tâm hồn thiện chí cho sự sống và t́nh yêu của Đức Kitô được trở nên dũng khí linh nhiệm nhằm cảm hóa và biến đổi thế giới này.

Các môn đệ đầu tiên chỉ có thể giới thiệu Đức Kitô cho những người khác sau khi các ông đă “đi theo”, đă “đến xem” và “ở lại” với Người. Chúng ta chỉ có thể trở nên chứng nhân mạnh bạo, can trường của Đức Kitô khi ta đă sống kinh nghiệm thông dự vào t́nh yêu thập giá cách trọn hảo.

 

10. Ơn gọi – Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Thiên Chúa có chương tŕnh cho mỗi người; tuy nhiên nếu ai không đáp trả tiếng gọi của Ngài, th́ Thiên Chúa vẫn yêu thương và tiếp tục mời gọi họ theo chương tŕnh yêu thương của Ngài. Thiên Chúa luôn mong muốn và mời gọi mỗi người sống hạnh phúc, không chỉ ở đời sau nhưng ngay đời hiện tại này nữa.

1) Chúa gọi Samuel

Samuel là người con được sinh ra sau khi bà Anna, một phụ nữ hiếm muộn, cầu khẩn Đức Chúa. Người mẹ đă cầu xin Thiên Chúa ban cho ḿnh người con, bà cầu nguyện khẩn thiết đến độ thầy tư tế Hêli tưởng bà say rượu nói nhảm. Sau khi nghe bà tŕnh bày, thầy Hêli chúc lành cho bà, và sau đó bà sinh hạ Samuel. Bà mẹ này đă dâng người con quư cho Thiên Chúa, để Samuel được phục vụ trong nhà Thiên Chúa. Bà Anna nhận ra rằng, tuy Samuel là con bà, nhưng Samuel cũng là người thuộc về Thiên Chúa, là người của Thiên Chúa. Người hiếm muộn dễ nhận ra con cái là quà tặng của Thiên Chúa; họ thường trân trọng và quư món quà Thiên Chúa ban này cách đặc biệt.

Thiên Chúa gọi Samuel. Đầu tiên Samuel cũng tưởng đó chỉ là lời gọi của người phàm. Samuel chỉ nhận ra Chúa gọi ḿnh khi thầy Eli dạy cho cậu biết. Phải chăng tiếng Chúa và tiếng con người cũng có những nét giống nhau, và chỉ con người thân quen với Thiên Chúa hay có kinh nghiệm với Thiên Chúa mới dễ dàng nhận ra? Con người là thể xác và tinh thần, nên để nghe được tiếng Chúa, con người cần nhận ra điều ǵ đó và xác tín rằng điều này đến từ Thiên Chúa. Thánh Yuse qua giấc mộng, nhận ra đó là tiếng Chúa. Giấc mộng, có thể là trung gian Thiên Chúa dùng để tỏ lộ Ư của Ngài cho con người. Đức Maria được thiên thần truyền tin. Có thể thiên thần lấy h́nh một người hiện ra cho Đức Maria và nói với Mẹ, nhưng cũng có thể Mẹ Maria nhận ra Ư Thiên Chúa qua những ư tưởng hiện ra trong đầu Mẹ.

Thiên Chúa có chương tŕnh cho Samuel. Ngài có chương tŕnh cho Yuse và Maria. Thiên Chúa có chương tŕnh cho Phaolô (1Cor.1, 1). Thiên Chúa cũng có chương tŕnh cho mỗi người chúng ta, v́ Thiên Chúa yêu thương mỗi người chúng ta như yêu chính Đức Yêsu (Ga.17, 23. 20; 15, 9.13). Thiên Chúa muốn chúng ta thuộc về Thiên Chúa, và sống hạnh phúc nhờ và trong Đức Yêsu Kitô (Eph.1, 3tt).

2) Thân xác anh em là chi thể của Chúa Kitô

Con người là tạo vật vô cùng quư đối với Thiên Chúa, đến độ Thiên Chúa đă ban chính Con Một Ngài cho thế gian, để những ai tin vào Con Ngài th́ được cứu (Ga.3, 16). Không phải những ai tin vào Con Ngài th́ mới được cứu, nhưng những ai tin vào Con Ngài th́ qua việc tin vào Con Ngài họ nhận ra sự thật về Thiên Chúa và về chính con người, và qua đó họ được giải phóng (Ga.8, 32) và được cứu.

Cả thân xác con người cũng là quư giá đối với Thiên Chúa. Thân xác của Đức Yêsu đă phục sinh, và cũng vậy thân xác của mỗi người chúng ta. Một số người tưởng rằng chết là hết, hoặc thân xác bị tiêu hủy sẽ vĩnh viễn không c̣n ǵ nữa; nhưng dựa vào biến cố Đức Yêsu phục sinh từ cơi chết, và theo sự hiểu biết của thánh Phaolô (1Cor.15), thân xác chúng ta sẽ phục sinh cho dù hiện tại chúng ta thấy thân xác của con người bị tiêu hủy với thời gian. Thân xác chúng ta là đền thờ của Chúa Thánh Thần.

Mỗi Kitô-hữu không chỉ phải sống sao cho tâm hồn được tinh tuyền để xứng đáng là đền thờ của Thiên Chúa, nhưng Kitô-hữu c̣n phải sống sao để thân xác cũng là thánh và thuộc về Thiên Chúa nữa. Với Kitô-hữu, không chỉ linh hồn là quư nhưng cả thân xác nữa.

3) Ơn gọi

Cuối tuần thứ hai trong cuộc Linh Thao, thánh Ynhă Loyola đề nghị người làm Linh Thao chọn lựa bậc sống. Với thánh Ynhă, chọn lựa bậc sống gia đ́nh hay “dâng hiến” không phải là ḿnh thích bậc sống nào th́ ḿnh chọn bậc sống đó, nhưng là nhận ra Thiên Chúa muốn ḿnh sống bậc sống nào th́ ḿnh sẽ “chọn” bậc sống đó.

Xác tín rằng Thiên Chúa yêu thương mỗi người. Nên nếu Thiên Chúa muốn ta sống ở bậc sống nào, th́ bậc sống đó (dù gia đ́nh hay dâng hiến) sẽ giúp ta triển nở và hạnh phúc nhất. Như vậy, để nhận ra Thiên Chúa muốn ḿnh sống ở bậc sống nào, hăy xem bậc sống nào làm ḿnh triển nở và hạnh phúc thật. Đời sống gia đ́nh không kém giá trị hơn đời sống dâng hiến. Đời sống nào giúp tôi sống triển nở và hạnh phúc, th́ đó là bậc sống Thiên Chúa muốn tôi sống, và đó là bậc sống tốt nhất đối với tôi. Nếu Chúa muốn tôi sống đời gia đ́nh, th́ bậc sống gia đ́nh là tốt nhất đối với tôi; nếu Chúa muốn tôi sống đời “dâng hiến,” th́ đời sống dâng hiến là đời sống tốt nhất đối với tôi, v́ nơi bậc sống này tôi được triển nở và hạnh phúc, và như vậy Thiên Chúa được tôn vinh nơi tôi.

Các tông đồ và thánh Phaolô, một khi biết Đức Yêsu, đă dâng hiến cả cuộc đời để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. Các tu sĩ trong ḍng lịch sử, đă hiến thân trọn vẹn cho Thiên Chúa và con người. Những người có gia đ́nh muốn phục vụ Thiên Chúa cách đặc biệt, chẳng hạn nơi trách vụ phó tế vĩnh viễn, cần có sự đồng ư của người phối ngẫu, v́ các vị này phải có trách nhiệm đầu tiên với gia đ́nh, nên để có thời gian và sức lực phục vụ tha nhân, cần sự đồng ư của người phối ngẫu.

Câu hỏi gợi ư chia sẻ

1. Xin bạn cho biết những nét đẹp của đời sống gia đ́nh.

2. Xin bạn liệt kê những nét đẹp của đời sống dâng hiến (đời sống tu tŕ).

3. Theo ư riêng của bạn, đời sống nào giúp bạn triển nở và hạnh phúc hơn?

 

11. Chúng tôi đă gặp Đấng Cứu Thế

(Trích trong ‘Suy Niệm Phúc Âm Hằng Ngày’ – Radio Veritas Asia)

Nh́n nhận khả năng của người khác đó là một điều mà ít ai trong chúng ta cũng muốn. Việt Nam chúng ta thường nói: "Mỗi người có một ông quan trong bụng". Ai cũng muốn ḿnh hơn kẻ khác, nổi hơn và trội hơn kẻ khác nhiều, ít ai chịu lép vế, chịu thua kẻ khác. Tự cao tự đại, ưa chỉ tay năm ngón, đó là thói thường của con người.

Kiêu ngạo là tội đứng đầu trong bảy mối tội đầu. Có lẽ người ta thấy tội kiêu ngạo là đầu dây mối nhợ sinh ra mọi tội lỗi khác. Tự đưa ḿnh lên cao, không xem ai ra ǵ và theo như câu nói dân gian của người Việt Nam: "Coi trời bằng vung" hay "coi trời bằng ngọn rau má" là thế. Tâm trạng đó làm cho con người khó chấp nhận nhau về khả năng, về tài khiếu hơn thua.

Bài Tin Mừng hôm nay nói việc thánh Gioan Tẩy Giả cũng có những môn đệ t́m theo học hỏi và muốn tôn ông làm thầy, ít ra là phải hai hoặc ba người, v́ sách ghi rằng: "Gioan đang đứng và nói chuyện với hai trong nhóm môn đệ của ông", chứng tỏ là Gioan cũng có nhiều môn đệ khác nữa ngoài hai người đó.

Và tâm trạng chung khi một người có nhiều môn đệ đi theo th́ không muốn một môn đệ nào của ḿnh bỏ ḿnh đi mà theo một người khác. Lư do đó có thể là ḿnh kém tài giỏi, đạo đức hơn người kia chăng? Sự việc đó phải chăng đă làm mất sĩ diện cho ḿnh? Vậy mà chúng ta thấy Gioan không nghĩ đến điều đó, ông vẫn chỉ cho các môn đệ của ḿnh về Chúa Giêsu: "Đây là Chiên Thiên Chúa". Hai môn đệ của Gioan nghe nói liền đi theo Chúa Giêsu nhưng Gioan cũng không ngăn cản hai môn đệ ḿnh, v́ ông đă thấy sự thật nơi Chúa Giêsu là Con Thên Chúa, là Đấng ông loan báo, Đấng cứu chuộc tội lỗi nhân loại. Ông không mê hoặc người khác để cho họ nhắm mắt theo ông nhưng ông chỉ cho người khác thấy sự thật, thấy chân lư, thấy Đấng Cứu Thế.

Mỗi người trong chúng ta đôi lúc cũng có thái độ ngược hẳn lại: theo Chúa, tuân giữ luật Chúa, đôi lúc chúng ta muốn người khác nh́n vào và khen chúng ta là ngựi đàng hoàng, tốt lành, đạo đức và chúng ta hănh diện v́ điều đó. Như thế chúng ta đă che mất h́nh ảnh của Thiên Chúa trong chúng ta, người khác t́m đến chúng ta chứ không phải họ t́m đến với Thiên Chúa qua sự tốt lành đạo đức đó. Mọi lời khen thưởng, ca ngợi thay v́ dành riêng cho Thiên Chúa, người ta lại dành hết cho chính ḿnh. Bài học của Gioan Tẩy Giả hôm nay là một bài học thực tế cho mỗi người trong chúng ta.

Khi hai môn đệ Gioan đi theo Chúa Giêsu. Anrê sau khi đă biết Chúa Giêsu là Đấng Kitô, là Đấng Messia th́ ông giới thiệu với anh ḿnh là Simon Phêrô đến gặp Chúa Giêsu. Anrê nói với anh ḿnh: "Chúng tôi đă gặp Đấng Messia, nghĩa là Đấng Kitô" và rồi ông đă dẫn Simon Phêrô đến với Chúa Giêsu.

Mỗi người trong chúng ta khi biết được Thiên Chúa, biết được ơn cứu rỗi của Đức Kitô, chúng ta có can đảm mạnh dạn giới thiệu Ngài với mọi người chăng? Chúa không đ̣i hết thảy trong mọi người chúng ta phải từ bỏ cha mẹ, anh em và mọi sự để theo Ngài. Nhưng Ngài đ̣i mỗi người trong chúng ta tùy khả năng, tùy môi trường nơi chúng ta đang sống mà giới thiệu Chúa cho mọi người biết. Chúa không đ̣i hỏi chúng ta phải rao giảng, phải nói về Chúa thật hay như các nhà hùng biện để lôi cuốn người khác. Nhưng Ngài chỉ mong ước trong cách sống đạo của mỗi người chúng ta, như là lời mời gọi tha thiết mọi người t́m đến Thiên Chúa t́nh thương. Mỗi cử chỉ, mỗi lời nói, mỗi hành động của chúng ta đều thể hiện lời Chúa trong Phúc Âm như thánh Phaolô đă thúc nhắc chúng ta: "Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi".

Có khi nào chúng ta làm một việc ǵ mà chúng ta suy nghĩ và thành thực hỏi Chúa: Chúa muốn con làm ǵ bây giờ đây? Hay ư Chúa muốn con thực hiện như thế nào? Có lẽ chưa hoặc ít khi chúng ta hỏi Chúa Giêsu như vậy. Nếu chúng ta thực sự yêu Chúa, Chúa luôn hiện diện trong chúng ta và chúng ta luôn luôn muốn làm đẹp ḷng Chúa, như một người muốn làm đẹp ḷng người yêu của ḿnh th́ khi nào họ cũng t́m hiểu xem người yêu của họ thích ǵ rồi mua một món quà tặng đúng như ư người yêu mong ước.

Chúng ta yêu Chúa, chúng ta cũng phải t́m xem Chúa yêu thích nhất điều ǵ và chúng ta phải cố gắng lo làm đẹp ḷng Ngài theo như điều Ngài mong muốn. Thật vậy, món quà đó không ǵ khác hơn là món quà của đức "Mến Chúa và Yêu Người".

Lạy Chúa, xin cho mỗi người trong chúng con biết sống khiêm nhượng như Gioan Tẩy Giả. Xin Chúa cho mỗi người trong chúng con biết giới thiệu Chúa cho mọi người qua lời ăn, tiếng nói và nhất là cách sống đạo của mỗi người chúng con trong cuộc sống hằng ngày.

 

12. Đáp lời Chúa gọi – Lm. Đam Trần Đ́nh Nhi

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng (Ga 1,35-42)

Thánh Gioan kể lại một cách hết sức thích thú câu chuyện Chúa Giêsu gọi hai môn đệ đầu tiên. Thích thú thật, v́ đó là câu chuyện cho phép chúng ta tha hồ dùng trí tưởng tượng mà h́nh dung ra bất cứ điều ǵ chúng ta thấy thích hợp với tâm t́nh cầu nguyện của chúng ta. Vậy trước hết chúng ta cứ để phần tưởng tượng lại mà tâm sự với Chúa, c̣n bây giờ chúng ta xem câu chuyện xảy ra như thế nào.

Chúng ta biết rơ hai người môn đệ này thuộc nhóm môn đệ ông Gioan Tẩy Giả. Với linh đạo “Chúa Giêsu phải nổi bật lên, c̣n tôi phải lu mờ đi” (Ga 3,30), ông Gioan Tẩy Giả thấy không có vấn đề ǵ khi ông vừa nhận ra Chúa Giêsu “đi ngang qua” liền nói cho các môn đệ biết đấy chính là “Chiên Thiên Chúa”. Lời ông Gioan giới thiệu giản dị, nhưng chứa đựng cả một bí mật cao cả, đă khiến cho hai trong số các môn đệ ông quyết định “đi theo Chúa Giêsu”. Đều là “đi”, nhưng người th́ đi ngang qua làm như không để ư ǵ, kẻ th́ đi theo để gặp cho được người ḿnh chưa biết là ai. Bề ngoài xem ra như chuyện t́nh cờ, nhưng bên trong là động lực mạnh mẽ: Chúa Giêsu cố ư đi ngang qua để lọt vào sự chú ư của những kẻ Chúa muốn gọi, c̣n hai môn đệ ông Gioan cố ư đi theo Chúa Giêsu là để khám phá một mầu nhiệm.

Điểm thứ hai lôi cuốn chúng ta chú ư, đó là mẩu đối thoại ngắn gọn giữa Chúa Giêsu và hai ông. Những câu hỏi và trả lời giống như giữa những người bàng quan với những lời lẽ rời rạc. Tuy nhiên những lời rời rạc ấy lại hàm ẩn ư nghĩa vô cùng sâu xa. T́m ǵ không giống như t́m một vật để đâu đó hoặc đánh mất, nhưng là một hành tŕnh t́m kiếm chân lư, t́m Đấng là Tin Mừng với tất cả những giá trị siêu việt của Thiên Chúa. Ở đâu không có nghĩa là một nơi chốn, v́ “chồn có hang, chim có tổ, c̣n Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58). Cho nên “ở đâu” có nghĩa là cả một kho tàng tích trữ tất cả những mặc khải Thiên Chúa muốn tỏ ra cho nhân loại. Cuối cùng là lời mời gọi Đến mà xem. Lời mời gọi “Đến mà xem” mở ra một chân trời mới cho hai môn đệ ông Gioan. Phải đến th́ mới thấy được, nghĩa là phải thoát ra ngoài cái vỏ con người của ḿnh th́ mới thấy được Chúa Giêsu là Đấng nào.

Kết thúc câu chuyện t́m kiếm này, thánh sử ghi lại rơ ràng: “Họ đă đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười”. Hai ông đă ở lại với Người ngày hôm ấy. Cả một ngày họ ở lại với Chúa Giêsu và chúng ta không rơ với khoảng thời gian đó họ đă khám phá được những ǵ. Thánh sử chấm dứt câu chuyện, không quên ghi lại câu chuyện thật ấn tượng ấy đă xảy ra vào khoảng giờ thứ mười, rồi ngài im lặng ở đây, nhường lại để chúng ta tưởng tượng mà lắng nghe hoặc nói với Chúa.

Sống sứ điệp Tin Mừng

Như hai môn đệ ông Gioan Tẩy Giả, chúng ta thực sự đă được Chúa gọi làm môn đệ khi lănh nhận bí tích Rửa tội. Tuy mang danh người môn đệ của Chúa, nhưng có lẽ chúng ta vẫn chưa thực sự đi theo Chúa, hỏi Chúa rằng “Thầy ở đâu?”, đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người. Tất cả những hành vi trên, người môn đệ đích thực cần phải xét lại mỗi ngày để coi ḿnh c̣n giữ được căn tính môn đệ hay không.

Thay v́ đi theo Chúa, chúng ta đi theo những ǵ thế gian quyến rũ mời gọi. Thay v́ hỏi Chúa “Thầy ở đâu?”, chúng ta đă giả thiết Chúa chỉ ở trong nhà thờ, do đó trong cuộc sống thường ngày, chúng ta không muốn Chúa có mặt để Người khỏi cản trở chúng ta sống theo thế gian. Mỗi tuần một lần, chúng ta quả có đến “xem chỗ Người ở”, nhưng thực ra chúng ta không ở lại với Người, có nghĩa là không sống mối tương quan mật thiết với Người trong cầu nguyện.

Thánh sử Gioan đă kể thêm sau câu chuyện rằng ông Anrê, một trong hai môn đệ ấy, đă về nhà và đem em ḿnh là Simôn Phêrô đến giới thiệu cho Chúa Giêsu. Đây cũng là điều chúng ta phải tự hỏi: Có bao giờ tôi giới thiệu một người nào đó và đem họ đến với Chúa chưa? Chúa Giêsu đang chờ đợi chúng ta đấy!

 

13. Lắng nghe tiếng Chúa

(Suy niệm của Lm. Anphong Trần Đức Phương)

Từ Chúa Nhật trước, chúng ta đă bước vào Mùa Quanh Năm với Chúa Nhật Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa. Hôm nay, chúng ta mừng Chúa Nhật II quanh năm (Chu kỳ năm B). Chủ điểm của Chúa Nhật này là ‘Tiếng Chúa gọi mỗi người chúng ta làm việc tông đồ cho Chúa.’

Bài đọc I (Samuel 3, 3-10; 19) nói đến việc Chúa gọi Samuel đi làm tiên tri cho Chúa. Khi nhận ra tiếng Chúa, Samuel đă mau mắn đáp lại: “Lạy Chúa xin hăy nói, con nghe đây!” Bài Phúc Âm (Gioan 1, 35-42) nói đến việc Chúa gọi hai anh em ông Anrê và Phêrô theo Chúa. Trong Bài đọc II (Corintô 6,13-15, 17-20), Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta là những tín hữu của Chúa, là chi thể trong Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa, là đền thờ Chúa Thánh Thần, chúng ta không được sống đời sống vô luân, nhưng phải sống thánh thiện, xứng đáng con cái thật của Chúa.

Qua các thời đại, Thiên Chúa thường gọi một số người để làm các công việc đặc biệt Chúa trao phó. Trong Cựu Ước, Chúa gọi Abraham, Môsê, Davit, các tiên tri v.v… Trong Tân Ước, Chúa Giêsu đă gọi 12 tông đồ. Đó là những ơn gọi đặc biệt, và việc Chúa gọi và chọn ai cũng là một việc nhiệm mầu của Chúa. Chúa gọi và chọn người Chúa muốn. Tuy nhiên, Chúa vẫn tôn trọng tự do của mỗi người; tùy theo mỗi người có quảng đại đáp lại tiếng Chúa gọi hay không (Matthêu 19,16…), và có cố gắng sống xứng đáng và trung thành với Ơn Gọi của ḿnh hay không.

Thánh Luca (Lc 6,12-16) có kể lại việc Chúa Giêsu đă “ra núi cầu nguyện suốt đêm với Thiên Chúa Cha. Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy 12 ông và gọi là Tông Đồ.” Điều này cho thấy việc chọn 12 Tông Đồ là việc rất quan trọng. Trong số 12 tông đồ Chúa chọn, đa số làm nghề chài lưới, có người làm nghề thu thuế; lại có Giuđa Itcariot là kẻ phản bội; sau này, Matthia được chọn để thay thế (Cv. 1, 15-26). Chúa cũng chọn Phaolô làm Tông Đồ cho Chúa ngay chính lúc ông này (lúc đó c̣n tên là Saolô) đang trên đường đi bách hại đạo Thánh Chúa (Cv. 9, 1…)

Trải qua lịch sử của Giáo Hội, Chúa cũng chọn một số người để chuyên làm việc tông đồ cho Chúa qua các địa vị khác nhau: Giáo Hoàng, Giám Mục, Linh Mục, Tu sĩ. Mỗi trường hợp đều do sự nhiệm mầu của t́nh yêu Chúa. Chẳng ai dám tự phụ ḿnh là người xứng đáng. Dù có những Ơn Gọi rất đặc biệt, như trường hợp của Đức Hồng Y Avery Dulles (1918-2008) con của ngoại trưởng Hoa Kỳ John Foster Dulles, đă gia nhập Đạo Công Giáo lúc 22 tuổi, đă từng là Sĩ Quan Hải Quân Hoa Kỳ, năm 1946 giải ngũ, vào Ḍng Tên, chịu chức Linh mục năm 1956, và dâng hiến cả cuộc đời để nghiên cứu, viết nhiều sách về thần học, trở nên rất nổi danh tại Hoa Kỳ về đời sống thánh thiện và nhiệt thành truyền giáo (giống như Ơn Gọi của Linh mục Bác Sĩ Cổ Tấn Hưng ở Việt Nam); Cha Bao Yuanjin, hiện sống âm thầm truyền giáo ở Trung Quốc; Cha Charles de Foulcauld (1858-1916), lập ḍng Tiểu Đệ và Tiểu Muội, và rất nhiều trường hợp khác.

Nhưng không phải chỉ các Giáo sĩ hay Tu sĩ mới được mời gọi làm việc tông đồ cho Chúa, mà mọi tín hữu đều có ơn gọi riêng của ḿnh để làm tông đồ cho Chúa cách này hay cách khác. Nh́n công việc truyền giáo bao la, Chúa Giêsu đă nói: “Lúa chín th́ nhiều mà thợ gặt th́ ít…” (Matthêu 9, 37), nhưng trong thực tế, Chúa chỉ chọn có 12 người chính thức làm Tông đồ, sau này thêm ông Phaolô. Vậy, làm sao công việc rao giảng Phúc Âm của Chúa đă có thể lan rộng nhanh chóng suốt cả Đế Quốc Rôma rộng lớn thời đó? Chính là nhờ sự cộng tác quảng đại của các giáo dân thời bấy giờ. Đó là việc Tông Đồ Giáo Dân.

Qua các thời đại cho đến ngày nay, vẫn có những người làm tông đồ giáo dân rất tích cực. Có những vị là những Tông Đồ Giáo Dân rất nổi danh như Antoine Federic Ozanam (Chân Phước) (1813-1835, học giả nổi tiếng của Pháp, lập Hội Bác Ái Thánh Vinh Sơn, chuyên giúp đỡ những người nghèo trên thế giới; Bác sĩ Thomas A. Dooley (Hoa Kỳ, 1927-1961) đă hy sinh cả cuộc đời giúp đồng bào Việt Nam mới di cư từ Miền Bắc vào Miền Nam, và sau đó mở nhà thương giúp bao bệnh nhân tại Lào; Frank Duff (Ái Nhĩ Lan, 1889-1980) lập Hội Đạo Binh Đức Mẹ, chuyên lo công việc thăm viếng giúp đỡ các bệnh nhân, các gia đ́nh đang gặp khó khăn; Chiara Lubich (người Ư, 1920-2008) thành lập hội Focolore để cổ vơ tinh thần ḥa hợp giữa mọi người thuộc các sắc tộc, ngôn ngữ, tôn giáo khác nhau.

Trong Giáo Hội, luôn có những Hội Đoàn hoạt động tông đồ rất tích cực cho mọi lứa tuổi, như Đạo Binh Đức Mẹ, Liên Minh Thánh Tâm, Các Bà Mẹ Công Giáo, Thiếu Nhi Thánh Thể, Hướng Đạo Sinh Công Giáo, Cursillo, Opus Dei, Tông Đồ Fatima, Hồn Nhỏ, Hội Bảo Trợ Ơn Gọi v.v… Ngoài ra, c̣n có các Tu Hội Đời quy tụ chính những giáo dân sống giữa đời, liên kết đặc biệt với nhau để làm việc tông đồ.

Tất cả các Hội Đoàn đều có mục đích giúp thánh hóa bản thân và rao giảng Phúc Âm t́nh thương của Chúa cách này hay cách khác, nơi chính gia đ́nh của ḿnh, nơi sở làm, nhà máy, xưởng thợ, trường học, trong mọi môi trường sống hằng ngày của mỗi người.

Trong Thánh Lễ hôm nay, chúng ta hăy đặc biệt cầu xin Chúa cho mọi người chúng ta luôn ư thức nhiệm vụ truyền giáo mà chúng ta phải chu toàn; xin cho chúng ta luôn biết ‘lắng nghe tiếng Chúa gọi’, trở nên những tông đồ nhiệt thành trên cánh đồng truyền giáo bao la trong thế giới chúng ta hiện nay.

 

14. Họ đến và ở lại với Người

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện)

Được công bố trong khung cảnh những ngày bắt đầu chu kỳ Thường Niên, bài Tin Mừng hôm nay (Ga 1,35-42) nêu bật sự bắt đầu một giai đoạn mới với sự xuất hiện của Đức Giêsu và các môn đệ đầu tiên bước theo Người.

Mở đầu bài Tin Mừng, chúng ta gặp một sự xác định thời điểm mới trong tŕnh thuật của sách Tin Mừng thứ tư: “Hôm sau, ông Gioan lại đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông” (c.35). Đó là ngày thứ ba kể từ sự kiện người Do Thái cử người đến chất vấn ông Gioan rằng ông là ai (1,19tt). Ông Gioan lại đang đứng ở chỗ của ngày hôm trước. Đó là cách tác giả ngầm nói với chúng ta về một t́nh trạng tĩnh, không tiến triển. Và quả thực, trong đoạn văn này không có bất cứ một động từ nào diễn tả sự di chuyển của ông Gioan. Nhưng sứ mạng của ông chưa kết thúc, cho đến khi nào Đức Giêsu bắt đầu sứ mạng của Người. Một khi Đức Giêsu đi ngang qua ông và tiến đi tiếp (trong hành tŕnh sứ vụ của Người), th́ ông sẽ không c̣n xuất hiện ở chỗ đó nữa, v́ sứ mạng của ông đă kết thúc. C̣n bây giờ, ông vẫn đang đứng đó. Bên cạnh ông là hai người trong nhóm môn đệ của ông. Họ đă nghe ông giảng dạy và đă nhận phép rửa của ông. Tác giả Tin Mừng đă không ghi “hai môn đệ” mà ghi là “hai người trong nhóm môn đệ”, chứng tỏ đă có cả một nhóm đông người đón nhận lời giảng dạy và phép rửa của ông Gioan. Vậy cùng với ông Gioan, hai người môn đệ này của ông đang đứng đó trong tư thế chờ đợi. Nhưng có một sự khác biệt: ông Gioan đă biết Đấng Mêsia (1,29) c̣n họ th́ chưa.

“Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa” (c.36). Ở đây có một chi tiết nhỏ nhưng rất đáng chú ư: ngày hôm trước, ông Gioan thấy Đức Giêsu tiến về phía ḿnh (1,29), c̣n hôm nay, vẫn đứng đó, ông lại “thấy Đức Giêsu đi ngang qua”. Quả thật, đúng như lời ông nói: “Người đến sau tôi, nhưng trổi vượt hơn tôi” (c.15), bây giờ ông đă ở phía sau rồi. Đó là thời khắc của một sự thay đổi quan trọng, thời điểm chấm dứt vai tṛ của vị tiền hô, v́ Đấng ông loan báo đă bắt đầu hoạt động của Người rồi. Vào thời khắc quan trọng đó, ông Gioan công bố trước mặt hai môn đệ của ông: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Ông nói cho họ biết Đức Giêsu là Đấng Mêsia, Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian (xem c.29). Ông chỉ cho họ thấy một cách cụ thể nội dung mà sự mong chờ của phép rửa do ông thực hiện đang hướng đến.

“Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giêsu” (c.38). “Đi theo Đức Giêsu” là một thuật ngữ được áp dụng cho các môn đệ của Đức Giêsu (1,43; 8,12; 10,4; 12,26; 13,36; 21,19). Hai người môn đệ của ông Gioan, như thế, đă quyết định sẽ trở thành môn đệ của Đức Giêsu. Họ đă lập tức lấy quyết định dứt khoát. Sự dứt khoát và lập tức này cho thấy họ đă hiểu sứ điệp của ông Gioan. Ông Gioan đương nhiên không hề phản đối quyết định của hai môn đệ, trái lại, có lẽ ông rất vui mừng trước quyết định đó. V́ ông biết Đức Giêsu mới là Chú Rể, như lời ông nói: “Chính anh em làm chứng cho thầy là thầy đă nói: “Tôi đây không phải là Đấng Kitô, mà là kẻ được sai đi trước mặt Người. Ai cưới cô dâu, người ấy là chú rể. C̣n người bạn của chú rể đứng đó nghe chàng, th́ vui mừng hớn hở v́ được nghe tiếng nói của chàng. Đó là niềm vui của thầy, niềm vui ấy bây giờ đă trọn vẹn. Người phải nổi bật lên, c̣n thầy phải lu mờ đi” (3,28-30).

Vậy hai môn đệ đi theo Đức Giêsu. Trong im lặng. Tức là trong sự chờ đợi. Cuộc t́m kiếm của họ đă được bắt đầu với việc họ rời ông Gioan và đi theo Đức Giêsu, nhưng chưa đạt đến đích nếu không có sáng kiến của Đức Giêsu. Biết rằng họ đang đi theo ḿnh, Đức Giêsu quay lại và hỏi họ. Người ân cần quan tâm đến khát vọng và sự t́m kiếm chân thành và tốt lành của con người. Người hỏi họ: “Các anh t́m ǵ thế?” (c.38a).Đức Giêsu muốn biết họ t́m cái ǵ nơi Người, họ chờ đợi ǵ nơi Người, họ nghĩ Người có thể làm ǵ cho họ.

Họ đáp: “Thưa Rabbi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu?” (c.38). Hai môn đệ gọi Đức Giêsu bằng một tước hiệu đầy kính trọng, và là cách gọi cho thấy họ ư thức rằng Người có thể ban cho họ những giáo huấn giá trị, rằng Người có thể cho họ biết những điều họ chưa biết. Họ vốn là môn đệ ông Gioan, nhưng đó chỉ là một hoàn cảnh tạm bợ, hoàn cảnh của sự trông chờ Đấng mà chính ông Gioan loan báo là đang đến.

Đương thời, mối tương quan tôn sư – môn đệ không chỉ là tương quan giữa người truyền và người nhận kiến thức, mà c̣n là và chính yếu là một cách sống. Môn đệ lấy cách sống của tôn sư làm chuẩn mực cho ḿnh. Chính v́ thế, trong ước muốn làm môn đệ của Đức Giêsu, hai người đồ đệ này muốn biết Người sống ở đâu. Chắc chắn đó phải là một nơi chốn (và t́nh cảnh cũng như cách thức sống) khác với của ông Gioan (mà họ đă từng biết). Kèm với lời hỏi “Thầy ở đâu?”, như thế, là một lời thưa với Đức Giêsu về quyết định của họ rời xa vị tôn sư của giai đoạn cũ để đến sống dưới ảnh hưởng của Người. Quyết định này hoàn tất sự đoạn tuyệt mà phép rửa bằng nước do ông Gioan cử hành là biểu tượng. Đồng thời, câu hỏi đó cũng có giá trị của một lời xin Đức Giêsu nhận họ làm môn đệ của Người.

“Người bảo họ: “Đến mà xem” (c.39a). Đức Giêsu trả lời trực tiếp cho lời xin gián tiếp trong lời hỏi của các ông. Người đưa ra một lời mời gọi rằng chính họ hăy đến để trải nghiệm một cách cụ thể và thực tế cuộc sống chung với Người trong tư cách là đồ đệ của Người. Khi đó, họ sẽ có thể t́m ra câu trả lời cho câu hỏi của họ. Rơ ràng là để trở thành môn đệ của Đức Giêsu, trước hết, cần phải bước vào trong vùng sự sống của Người, nơi Người đang sống.

“Họ đă đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười” (c.39b). Họ đă bước vào vùng của sự sống, trải nghiệm về ân nghĩa và sự thật trong đó (1,14). Trải nghiệm trực tiếp đó đă giúp họ đi đến quyết định cuối cùng là ở lại với Đức Giêsu. Trong Ga, đây là hai môn đệ đầu tiên đến nơi Đức Giêsu sống. Như thế là bắt đầu xuất hiện cộng đoàn mới, cộng đoàn Mêsia, cộng đoàn những kẻ sẽ có thể nói: “Ngôi Lời đă trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đă được nh́n thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật “(c.14). Rơ ràng đây là một thời khắc quan trọng.

“Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười”. Theo cách tính của chúng ta ngày nay là khoảng bốn giờ chiều. Theo cách tính của người Do Thái, đó là thời điểm cuối ngày và chuẩn bị bước sang ngày mới, vốn bắt đầu vào khoảng 6 giờ chiều của chúng ta. Ngày cũ sắp chấm dứt. Ngày mới sắp xuất hiện. Khi ngày mới bắt đầu cũng là lúc đánh dấu sự chấm dứt của dân cũ và sự khởi đầu của dân mới. Dân cũ đă sắp chấm dứt vai tṛ của ḿnh, và đó là lúc Đức Giêsu bắt đầu gây dựng nhóm của Người.

“Ông Anrê, anh ông Simôn Phêrô, là một trong hai người đă nghe ông Gioan nói và đi theo Đức Giêsu. Trước tiên, ông gặp em ḿnh là ông Simôn và nói: “Chúng tôi đă gặp Đấng Mêsia” (nghĩa là Đấng Kitô)” (cc.40-41). Trải nghiệm của ông Anrê với Đức Giêsu đă lập tức gây nên nơi ông cái ư thức về tính cách khẩn thiết phải làm cho những người khác biết về Người. Trước tiên, ông t́m gặp và loan báo cho em trai ḿnh. Nói “ trước tiên” tức là ông không chỉ giới thiệu với ông Simôn mà thôi, nhưng c̣n với rất nhiều người khác nữa. Ông Simôn đă không được nghe ông Gioan giới thiệu về Đức Giêsu, và ông chưa đi theo Người. Ông Anrê báo tin cho ông Simôn bằng một công thức khá đặc biệt: “Chúng tôi đă gặp Đấng Mêsia” (nghĩa là Đấng Kitô)”. Chắc chắn ông Simôn là một trong số những người đang tha thiết với niềm mong chờ Đấng Mêsia mà ông Gioan đă loan báo ở 1,27. Khi nói với Simôn rằng các ông đă gặp Đấng Mêsia, là ông Anrê loan báo cho ông Simôn biết sự chờ đợi đó đă kết thúc, Đấng Mêsia đang hiện diện rồi.

Quan niệm về “Đấng Mêsia” của ông Anrê lúc này cần được giải thích trong quy chiếu về hai sự kiện: lời công bố của ông Gioan (“Đây là Chiên Thiên Chúa” ở c.36) và lời giải thích của tác giả Ga (“nghĩa là Đấng Kitô”). Với ẩn dụ Con Chiên, ông Anrê hiểu Đức Giêsu là Đấng Mêsia trong tư cách Đấng thực hiện cuộc Vượt Qua mới, Đấng sẽ dùng cái chết của ḿnh mà giải thoát dân Người khỏi sự chết. Người sẽ khai mở một giao ước mới,thay thế các thiết chế của giao ước cũ đă bị vượt quá. Quan niệm “ Đấng Kitô” quy chiếu về mầu nhiệm Thần Khí ngự xuống trên Đức Giêsu (1,32) và Người chính là Đấng làm phép rửa trong Thần Khí (c.33). Ông Anrê đă được trải nghiệm về t́nh yêu, ân sủng và sự thật nơi Đức Giêsu, và ông loan báo điều đó cho ông Simôn, em trai ḿnh.

Ông Anrê đă nhấn mạnh trải nghiệm quan trọng đó không phải như một trải nghiệm cá nhân đơn độc, mà là trải nghiệm của cộng đoàn các đồ đệ. Ông nói “Chúng tôi đă gặp”. Trải nghiệm về Đấng Mêsia luôn luôn là một trải nghiệm mang chiều kích cộng đoàn.

“Rồi ông Anrê dẫn em ḿnh đến gặp Đức Giêsu. Đức Giêsu nh́n ông Simôn và nói: “Anh là Simôn, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha” (tức là Phêrô)” (c.42). Ông Simôn không có sáng kiến tự ḿnh đến với Đức Giêsu. Ông thụ động để cho ông Anrê dẫn đến. Chúng ta cũng không thấy ông b́nh luận bất cứ câu nào về lời giới thiệu của ông Anrê. Ông không nói một lời nào trong toàn bộ tŕnh thuật này.

Đức Giêsu nh́n ông Simôn. Đây chắc chắn không phải là một cái nh́n b́nh thường hay thoáng qua. Trước đây, ông Gioan cũng đă nh́n Đức Giêsu và rồi tuyên bố “Đây là Chiên Thiên Chúa” (c.36). Cái nh́n của Chúa Giêsu đối với ông Simôn lúc này cũng tương tự như vậy. Người nh́n ông, rồi tuyên bố: “Anh là…”. V́ thế, đó không phải là một cái nh́n tuyển chọn, mà là cái nh́n thẩm thấu, cái nh́n để nhận định.

Đức Giêsu xác định ông Simôn là “con ông Gioan”, và tác giả Ga đặt mạo từ trước hạn từ “con”. Điều này gây khó khăn cho cách hiểu rằng thân phụ của ông Simôn có tên là Gioan, v́ ngay ở câu 41 tác giả vừa nói rơ Simôn là em trai của Anrê (tức không thể là con trai duy nhất của ông Gioan được). Đàng khác, danh xưng Gioan từ đầu đến đây được dùng để gọi ông Gioan Tẩy Giả (cc.35.40). V́ vậy, nhiều người chấp nhận cách hiểu rằng ông Simôn một đàng thuộc về phong trào của ông Gioan Tẩy Giả, một đàng khác, ông chưa hề được nghe chứng từ của ông Gioan về Đức Giêsu, cũng chưa hề đi theo Đức Giêsu như hai người môn đệ kia.

Rồi Đức Giêsu tuyên bố rằng ông Simôn sẽ được gọi là Kêpha. Tác giả Ga là tác giả sách Tin Mừng duy nhất ghi tên Aram của ông Simôn là Kêpha, một têngọi khá phổ biến trong tiếng Aram, và có nghĩa là đá, tương tự như tên gọi Petros trong tiếng Hy Lạp. Tác giả Ga không hề nói rằng Đức Giêsu đổi tên cho ông Simôn thành Phêrô. Trong Ga, không bao giờ Đức Giêsu gọi nhân vật này là Phêrô; chỉ có tác giả Ga mới gọi ông là Simôn Phêrô trong một số trường hợp (thí dụ: 1,40; 6,6.68…).

Cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu với ông Simôn ở đây là một cuộc gặp gỡ rất đặc biệt. Đức Giêsu không chủ động gặp ông hay bắt chuyện với ông, cũng không kêu mời ông đi theo Người. Về phần ḿnh, ông Simôn hoàn toàn thụ động, và cuối cùng, ông cũng chẳng ngỏ lời xin làm môn đệ của Đức Giêsu. Rồi sau khi đă gặp Đức Giêsu, ông Simôn chẳng hề giới thiệu Người với bất cứ ai, khác hẳn ông Anrê là anh trai của ông. Người môn đệ đầu tiên mà Đức Giêsu chủ động kêu gọi, trong Ga, ngay sau đoạn Tin Mừng mà chúng ta suy niệm hôm nay, chính là ông Philípphê (1,43). Phải đến cuối sách, ở chương 21, sau khi ông Simôn đă ba lần tuyên bố về t́nh yêu của ông đối với Đức Giêsu, chúng ta mới thấy Đức Giêsu ngỏ lời với ông như Người ngỏ với ông Philípphê ngay từ giây phút đầu gặp gỡ.

Rất nhiều khi trong cuộc đời, chúng ta thấy ḿnh được may mắn và hăng hái như ông Anrê. Nhưng cũng rất nhiều khi chúng ta thấy ḿnh giống như ông Phêrô trong bài Tin Mừng hôm nay vậy… Nhưng chính nhân vật có vẻ thụ động, chẳng có ǵ hấp dẫn và xuất hiện trong một t́nh cảnh chẳng có ǵ nổi bật này, lại là petros, nghĩa là tảng đá…

 

15. Ở lại với Chúa - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Trên các chương tŕnh tivi đều có mục quảng cáo. Sản phẩm quảng cáo th́ cái ǵ cũng nhất, cái ǵ cũng đẹp cũng bền. Thông tin quảng cáo đă tác động mỗi ngày nhiều lần vào người xem tạo nên một ấn tượng mạnh. Từ đó trong tiềm thức, khách hàng sẽ t́m mua sản phẩm ấy. Quảng cáo là giới thiệu những ǵ là độc đáo nhất. Mục đích của giới thiệu là để biết nhau. Muốn giơí thiệu một người th́ phải biết về người đó, tuỳ theo mối liên hệ giữa hai người mà mức độ biết nhau nhiều hay ít. Nếu không biết rơ về một người th́ có thể giới thiệu sai về người ấy.

Trong Phúc Âm có đề cập đến việc giới thiệu. Có ba lời giới thiệu tiêu biểu. Chúa Cha giới thiệu Chúa Kitô: “Đây là con Ta yêu dấu, làm đẹp Ta mọi đàng”( Mt 4,17). Chúa Kitô giới thiệu Chúa Cha: ”Ai thầy Thầy là thấy Cha” (Ga 14,9) Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Kitô: “Đây là Chiên Thiên Chúa. Đây Đấng xoá tội trần gian.. Người đến sau tôi nhưng quyền thế hơn tôi v́ có trươc tôi … Ngài làm phép rửa trong Thánh Thần.” (x.Ga 1,29–34). Trong khi toàn miền Giêrusalem và Giuđêa đang coi Gioan như thần tượng, th́ chỉ v́ để giới thiệu Chúa Kitô, Gioan đă từ giă sự nổi danh của ḿnh và lặng lẽ rút lui. Chúa Kitô giới thiệu Chúa Cha bằng cách nói cho người nghe hăy nh́n vào chính Ngài. Gioan giới thiệu Chúa Kitô bằng cách nói cho người nghe đừng nh́n vào ḿnh,nhưng nh́n thằng vào Chúa. Đây là cách giới thiệu chính xác nhất khi một người muốn giới thiệu cho người khác về Thiên Chúa.

Phúc Âm hôm nay kể câu chuyện: “Thấy Đức Kitô đi ngang qua, ông lên tiếng nói: đây là Chiên Thiên Chúa. Hai môn đệ nghe ông nói liền đi theo Đức Kitô” (Ga 1,36-37). Bấy giờ Gioan rất nổi tiếng. Những người Do thái ở Giêrusalem cử các Thầy Tư tế và Lêvi đến hỏi xem liệu ông có phải là Đức Kitô, là Êlia hoặc ngôn sứ không (Ga 1,19-23). Gioan trả lời trung thực: “Không! Tôi không phải là Đức Kitô” (Ga 1,20). Ông chỉ nhận ḿnh là tiếng kêu trong hoang địa (1,23). Đức Kitô là Đấng đến sau ông, cao trọng hơn ông v́ có trước ông (1,30). Đấng ấy được Thánh Thần xức dầu (1,33), và sẽ rửa mọi người trong Thánh Thần và lửa (1,33; Mt3,11). Đấng ấy cao trọng đến nỗi ông không đáng cởi dây giày cho Ngài (1,27). Nhiệm vụ của ông là làm cho mọi người và cả các môn đệ của ông hiểu đươc điều đó. Gioan mong ước khi có dịp sẽ giới thiệu cho các môn đệ về vị Thầy đích thực mà họ cần phải theo. Bởi thế, khi thấy Chúa Giêsu đi ngang qua, Gioan liền lên tiếng: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Hiểu ư thầy, hai môn đề liền đi theo Chúa Giêsu trong hân hoan. Thay v́ nuối tiếc, Gioan đă hạnh phúc hối dục họ lên đường. Nếu hai môn đệ không muốn theo Chúa mà cứ nấn ná ở lại với Gioan th́ giáo dục tôn giáo của Gioan đă thất bại. Nếu hai môn sinh cứ đ̣i ở lại với Gioan là dấu chứng Gioan chỉ nói về ḿnh, gây ảnh hưởng cho ḿnh. Lên đường theo Chúa như một khám phá mới của hai môn sinh là kết quả thành công của Gioan trong sứ mạng làm người dọn đường cho Chúa.

Chúa Giêsu quay lại và hỏi: Các anh t́m ǵ thế? Hai môn đệ đă không đi “t́m ǵ” mà là t́m một Con Người. Họ đi t́m Đức Kitô. Họ mang nặng nổi khát khao đi t́m một trái tim, một vị thầy. “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?”. Câu hỏi ấy là câu hỏi muốn hiểu, muốn t́m đến và muốn ở lại với Thầy. Chúa Giêsu không trả lời là Ngài ở nơi này nơi kia và cũng không mời họ đến thăm chơi. Chúa nói “hăy đến mà xem” rồi sẽ biết. “Đến mà xem” là lời mời gọi đi vào cuộc gặp gỡ thân thiết. Trăm nghe không bằng mắt thấy “cứ đến mà xem” cũng là câu nói Philipphê thuyết phục Nathanael (Ga 1,46).Thánh sử Gioan kết thúc câu chuyện các môn đệ đầu tiên của Đức Kitô bằng h́nh ảnh: “Họ đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người” (1,39).

Chỗ ở của Chúa Giêsu có ǵ hấp dẫn mà giữ chân các ông ở lại? Đầy đủ tiện nghi và sung túc chăng? Chắc chắn là không rồi, v́ Chúa đă từng nói:” Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8,20). Rày đây mai đó nên nơi Chúa ở là “khách sạn ngàn sao”, chẳng có ǵ hấp dẫn như biệt thự hay khách sạn mấy sao. Sự hấp dẫn các môn đệ chính là con người Chúa Giêsu. Chính cuộc sống và lời giảng dạy của Ngài đă hấp dẫn họ và họ nhận ra Ngài là Đấng Messia, Đấng Cứu Thế, vị Thầy mà họ đáng theo.

Chúa kêu gọi các môn đệ, trước hết để họ “ở lại với Ngài” trong bầu khí huynh đệ thân t́nh (x. Ga 1,35-39), rồi Ngài mới sai họ đi thi hành sứ vụ. Yêu thương nhau là một dấu chỉ, là chứng từ cốt yếu, là đ̣i hỏi tiên quyết và đồng thời cũng là điều kiện cơ bản của người môn đệ Đức Giêsu.“Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có ḷng yêu thương nhau” (Ga 13,35).

Đi t́m con người Đức Kitô là theo Ngài, thuộc về Ngài, ở với Ngài. Các môn đệ vui mừng hân hoan, họ muốn chia sẽ với người thân yêu nên khi trở về, Anrê gặp em là Simon, nói với em về Đấng mà ḿnh đă gặp và dẫn em đến diện kiến Chúa. Simon được Chúa đổi tên thành Phêrô. Trên đá tảng Phêrô, Chúa xây Hội Thánh và cửa hoả ngục sẽ không thắng được. Một cuộc gặp gỡ. Một t́nh yêu có thể làm đảo lộn cả một cuộc đời. Khám phá ra t́nh yêu Thiên Chúa trong đời ḿnh quả là một biến cố vô cùng quan trọng.Trong ánh sáng t́nh yêu của Thiên Chúa, những ai đă gặp Người đều thay đổi dần cuộc đời ḿnh.

Gioan Tẩy Giả là mẫu mực cho người tông đồ hôm nay. Giới thiệu Chúa c̣n ḿnh th́ lặng lẽ rút lui để Chúa lớn lên. Bổn phận giới thiệu Chúa cho người khác là một ân sủng được trao ban. Thiên Chúa là t́nh yêu. Vậy lời giới thiệu trung thực nhất phải là lời ca ngợi về một Thiên Chúa t́nh thương.Để nói về t́nh thương, chúng ta phải có kinh nghiệm về t́nh thương.Cách chuyển thông chính xác nhất t́nh thương của Thiên Chúa là bản thân mỗi người yêu tha nhân với tấm ḷng chân thành của ḿnh.

Lời giới thiệu của Gioan Tẩy giả về Chúa Kitô rất ngắn. Điều đó nhắn nhủ rằng: Để giới thiệu về Chúa, chưa chắc đă cần nói nhiều.V́ nói nhiều chưa chắc đă là nói hay. Nói hay mà không đúng th́ chỉ làm người nghe lạc lối. Để giới thiệu về Chúa cần nói đúng và sống điều ḿnh rao giảng.Dung mạo đúng nhất của Thiên Chúa là t́nh yêu thương “ Thiên Chúa đă yêu thế gian đến nổi ban Con Một của Ngài” (Ga 3,16) và t́nh yêu thương ấy là “ Không có t́nh yêu nào cao cả hơn t́nh thương của người hy sinh tính mạng v́ bạn hữu của ḿnh” (Ga 15,13).

Để giới thiệu Chúa, tôi phải biết Chúa. Bài học đầu tiên của các môn đệ là “ở lại với Chúa”. Chỉ khi sống với Chúa mới biết Chúa. V́ thế, để giới thiệu về Chúa, phải biết Chúa. Để biết Chúa, chỉ có con đường duy nhất là sống với Chúa. Sống với Chúa chính là chuyên chăm học hỏi, suy niệm Lời Chúa và chiêm nghiệm trước Thánh Thể mỗi ngày để trở nên người giới thiệu Chúa cách trung thực và chính xác cho người khác.

Lạy Chúa, xin cho con nh́n thấy sự từ bỏ của Gioan và hai môn đệ mà xét lại bản thân. Con đang giới thiệu Chúa hay dùng Chúa để ḿnh được lợi. Con đang theo Chúa hay chỉ theo người của Chúa. Xin cho con luôn chọn Chúa qua những chọn lựa nhỏ bé nhiều lần trong ngày để Chúa chiếm trọn cuộc sống con và để con thông hiệp vào cuộc sống Chúa nhờ đó con được ở lại với Chúa.

Và Lạy Chúa, xin ở lại với con, v́ con yếu đuối, con cần Chúa đỡ nâng mỗi ngày trong đời con. Không có Chúa, con đâu c̣n nồng nhiệt hăng say. Xin ở lại với con v́ con chỉ t́m Chúa, yêu Chúa và không đ̣i phần thưởng nào khác ngoài việc được yêu Chúa hơn. Amen.

 

16. Tiếng Chúa gọi – AM Trần B́nh An

Olalla Oliveros, người mẫu nổi tiếng đă tham gia chụp nhiều bộ ảnh quyến rũ, diễn viên chính trong nhiều bộ phim, gương mặt của cô xuất hiện trên các tấm biển khắp Tây Ban Nha. Tuy nhiên, nữ người mẫu đă quyết định trở thành một nữ tu, gia nhập Ḍng thánh Michael. Mặc dù sự nghiệp vẫn đang phát triển, nhưng Olalla Oliveros không c̣n cảm thấy hạnh phúc, vui vẻ.

Ở tuổi 36, cô quyết định từ bỏ sự nghiệp và khoác lên ḿnh chiếc áo nữ tu sau khi đến viếng Nhà thờ Đức Mẹ Fatima ở Bồ Đào Nha. Không muốn nói nhiều về quyết định của ḿnh, Oliveros chỉ cho biết cảm giác khi tới nơi này giống như có một trận động đất rung chuyển trong người: “Chúa không bao giờ sai, Ngài hỏi tôi có sẵn sàng theo Ngài và tôi không thể từ chối.”

Trên một trang web, Oliveros chia sẻ rằng cô đă có những cảm giác rất kỳ lạ. Từ sau chuyến thăm nhà thờ, h́nh ảnh bản thân mặc chiếc áo nữ tu luôn hiển hiện trong tâm trí Oliveros. V́ thế, cô đă quyết định từ bỏ công việc của ḿnh để trở thành một nữ tu và đổi tên thành Olalla del Sí de María. Trên tờ El Tiempo, Oliveros chia sẻ: “Là một người mẫu bạn phải có thân h́nh chuẩn, là h́nh mẫu để mọi người noi theo. Tôi cảm thấy áp lực. Tôi cũng mệt với những lời nói dối, h́nh thức, một xă hội đầy bạo lực, ngoại t́nh, ma túy, rượu, thù oán và một thế giới đề cao vật chất, hưởng thụ, dâm dục, lừa đảo.” Oliveros cho biết thêm: “Tôi không lấy việc trở thành một nữ tu để lăng xê tên tuổi của bản thân, mà chỉ muốn trở thành một h́nh mẫu đề cao phẩm giá thực sự của người phụ nữ.”

Oliveros không phải là người mẫu đầu tiên quyết định từ bỏ cuộc sống bận rộn trên sàn catwalk để chọn lấy một cuộc sống b́nh lặng trong tu viện. Amada Rosa Pérez là một trong những người mẫu hàng đầu của Colombia trước khi trở thành một nữ tu vào năm 2005, v́ cảm thấy mệt mỏi với cuộc sống căng thẳng của ḿnh. (Theo Daily Mail)

Tin Mừng hôm nay, Thánh Gioan tường thuật Thánh Gioan Tiền Hô giới thiệu những môn đệ với Đức Giêsu: “Đây là Chiên Thiên Chúa!” Lập tức họ được Đức Giêsu mời gọi theo Người. Rồi họ lại giới thiệu người khác đến với Chúa. Bây giờ, Đức Giêsu vẫn không ngừng mời gọi mọi người bỏ mọi sự theo Người. Điển h́nh như các người mẫu, diễn viên tài sắc Olalla Oliveros và Amada Rosa Pérez đă đáp lời, mặc dù sự nghiệp c̣n đang lẫy lừng thành đạt.

Tiếng gọi

Hôm nay, tín hữu Kitô không c̣n vinh hạnh được thánh Gioan Tiền Hô trực tiếp giới thiệu đến với Chiên Thiên Chúa, như các môn đệ thuở xưa. Nhưng may mắn thay, Giáo Hội không thiếu các đấng như môn đệ Anrê, sẵn sàng tận tụy chỉ dẫn đến Đức Giêsu. Đó là những Chủ Chiên tốt lành, những tu sĩ chân chính, những tông đồ giáo dân nhiệt thành. Hoặc Chúa gửi đến những dấu chỉ riêng cho từng người. Một lời khuyên nhủ nhắc nhở của bè bạn. Một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Một gia cảnh lục đục bất an. Một thất bại cay đắng, ê chề…Vấn đề là người tín hữu có thức tỉnh, sẵn sàng và khao khát lắng nghe, t́m hiểu, giải mă dấu chỉ, để nghe được tiếng Đức Giêsu mời gọi hay không? Hay cứ đắm đuối, mải mê, mù ḷa trong cơi ta bà tục lụy, th́ làm sao nghe được tiếng Chúa gọi?

“Đến mà xem!” Bằng rất nhiều dấu chỉ, Thiên Chúa luôn xót thương, luôn kiên nhẫn mời gọi, luôn nhẫn nại chờ từng người đáp lại, tựa như Người Cha tốt lành trông ngóng đứa con hoang, biết ăn năn sám hối, đáp lời, mà quay trở về.

“Hăy theo Thầy!” Các tông đồ đă bỏ mọi sự theo Chúa, con có dứt khoát một phen theo Chúa không? Chúa phải gọi con mấy lần rồi?” (Đường Hy Vọng, số 61)

Lời đáp

“Dạ, con đây!” Ngôn sứ Samuel đă luôn tỉnh thức, mau mắn cả ba lần đều thân thưa tiếng Chúa gọi. Một tâm hồn chân thành, tinh tuyền, trong sáng, nhạy cảm, sẵn sàng lắng nghe, đón nhận Lời Chúa, để thực thi Thánh Ư Chúa. “Xin Ngài phán, v́ tôi tờ Ngài đang lắng nghe.”

Hai Tông đồ Anrê và Gioan cũng đều nhiệt thành, sẵn sàng tuân theo lời mời gọi “Đến mà xem.” Họ đă đến xem chỗ Người ở và ở lại vời Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười. (tức bốn giờ chiều ngày nay) Không chút chần chừ, so đo, suy xét, họ bỏ tất cả nghề nghiệp, huyết tộc, thân bằng quyến thuộc, dứt khoát dấn thân theo Đức Giêsu, Đấng chẳng có nhà cửa, cũng chẳng có chỗ tựa đầu nữa. (Mt 8, 20)

Đức Giêsu cũng thân thương mời gọi, an ủi, cứu giúp tất cả những ai đang khốn khổ, cực nhọc: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hăy đến cùng Tôi, Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng (Mt 11, 28). V́ chỉ ở nơi Người mới có sự b́nh an viên măn, niềm hoan lạc, mà thế gian không bao giờ có. “Ta để lại b́nh an cho các ngươi; Ta ban b́nh an của Ta cho các ngươi; không phải thế gian ban cho thế nào, th́ Ta cũng ban cho như vậy đâu! Ḷng các ngươi chớ xao xuyến, chớ nhát đảm” (Ga 14, 27)

“Chúa hiện diện bên con, không phải chỉ là một tâm t́nh, nhưng là việc Chúa chiếm hữu cả con người con, hướng dẫn, yêu thương, an ủi con.” (Đường Hy Vọng, số 241)

Chứng nhân

Ông Gioan Tiền Hô đă giới thiệu Đức Giêsu cho ông Anrê. Ngài đă gặp Chúa, ở lại với Chúa dù chỉ một ngày, đă cảm nghiệm T́nh Yêu tuyệt vời, nay lại tiếp tục giới thiệu cho Simon. Trước hết, ông Anrê gặp em ḿnh là ông Simon và nói: “Chúng tôi đă gặp Đấng Messia.” Rồi ông dẫn em ḿnh đến gặp Chúa Giêsu.

Gặp gỡ Chúa, ở lại trong T́nh Yêu c̣n ǵ hân hoan, sung sướng, hạnh phúc hơn? C̣n ǵ tuyệt vời hơn được nương náu bên Người Cha chí nhân, chí thánh, nguồn cội tinh tuyền của con người? Người luôn đầy ḷng thương xót, tha thứ, biến đổi, thánh hóa con người bùn nhơ, tội lỗi, bất nghĩa, bất tín, bất trung thành bạn hữu, anh em của Người. Chính v́ nếm trải cảm nghiệm thần thánh, mà ông Anrê vội vàng t́m gọi em ḿnh là Simon cùng theo, làm môn đệ Đức Giêsu cực trọng.

Có Chúa là có tất cả, dù bao phong ba cuộc đời thử thách, ngôn sứ Khabacúc vẫn trung kiên xác tín: “Thật thế, cây vả không c̣n đâm bông nữa, cả vườn nho không được trái nào. Quả ô liu đợi hoài không thấy, ruộng đồng chẳng đem lại ǵ ăn. Bầy chiên dê biến mất khỏi ràn, ngó vào chuồng ḅ bê hết sạch. Nhưng phần tôi, tôi nhảy mừng v́ ĐỨC CHÚA, hỷ hoan v́ Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng, làm cho tôi mạnh sức, cho đôi chân này lanh lẹ tựa chân nai, và dẫn tôi đi trên đỉnh núi cao vời.” (Kb 3, 17-19)

Đức Giêsu liền sai cùng bốn mộn đệ đầu tiên làm chứng nhân, rao truyền ơn cứu độ đến mọi người, mọi dân tộc: "Các anh hăy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá." (Mc 1, 17) Bởi v́ “Các con đă lănh nhận nhưng không th́ hăy cho nhưng không.” (Mt 10,8)

“Quyết định theo Chúa của con không phải chỉ là một chữ kư, không phải là một lời tuyên thệ thôi. Nhưng là một sự hiến dâng liên lỉ, thực hiện trong cả cuộc sống.” (Đường Hy Vọng, số 69)

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con thành tâm và tỉnh thức nghe thấy tiếng Chúa gọi. Chúng con vốn yếu đuối, dễ sa ngă, dễ bị sự đời cám dỗ quyến rũ. Vậy xin Chúa tha thứ và cảm biến, đối mới chúng con, để chúng con luôn nhạy cảm nghe được tiếng gọi qua các dấu chỉ, hầu được kết hiệp cùng Chúa trong từng giây phút cuộc đời.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ cầu bầu cho chúng con hằng ngày biết lắng nghe Lời Chúa mời gọi, để tỉnh thức ăn năn, sám hối, trở về cùng Chúa luôn. Amen.

 

17. Vai tṛ trung gian

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)

Nghe hai từ trung gian, không ít nguời trong chúng ta cảm thấy khó chịu. Quả thật trong các hoạt động kinh doanh buôn bán cũng như trong các dịch vụ, hễ có trung gian là hầu như có “phết phẩy”, có những chi phí không như ư. Dĩ nhiên không ai chấp nhận một sự tồn tại của chuổi các trung gian nặng nề, vô bổ, gây phiền hà và gây lăng phí. V́ thế người ta t́m cách loại bỏ bớt những trung gian ấy ngay cả trong các sinh hoạt hành chính. Chuyện bỏ bớt “các cửa, các dấu” để tiến đến mô h́nh một, cửa một dấu là một trong những nổ lực của cải cách hành chánh nước Việt thời gian vừa qua. Thế nhưng cần phải xác nhận rằng tác nhân trung gian vẫn c̣n đó vị trí và vai tṛ cần thiết không thể thiếu trong đời sống kinh tế, xă hội lẫn tâm linh.

Một chân lư trong niềm tin Kitô giáo: Thiên Chúa ban ơn cho con người thường là qua các trung gian. Không kể đến thưở ban đầu của buổi sáng tạo, th́ ngoài việc trực tiếp phú ban linh hồn, Thiên Chúa ban cho chúng ta sự sống thể lư cùng những ơn lành khác đều thường qua các trung gian là tổ tiên, ông bà, bố mẹ, thầy cô, các vị mục tử trong Hội thánh…Ngược lại, để đến với Thiên Chúa th́ các trung gian luôn có đó vị trí, vai tṛ cần thiết dường như là tất yếu theo chương tŕnh Thiên Chúa đặt định.

Hai lần Thiên Chúa gọi Samuel, thế mà Samuel vẫn không nhận biết. Để có thể nhận ra tiếng Chúa phán, trẻ Samuel đă phải cần đến sự chỉ dạy của tư tế Hêli. (x.1 Sm 3,3b-10) (Bài đọc 1). Chính nhờ lời giới thiệu của thầy Gioan Tẩy Giả mà hai môn đệ mới tiếp cận được với Chúa Giêsu để rồi theo Người và ở lại với Người ngày hôm ấy. Nhờ một trung gian là Anrê mà Simon Phêrô đă đến gặp Chúa Giêsu và Hội Thánh chúng ta đă có được một vị Tông đồ nhiệt thành, một vị Giáo hoàng tiên khởi. (x. Ga 1,35-42) (bài Tin Mừng). Thánh Tông đồ dân ngoại khẳng định rằng thân xác chúng ta là một trung gian để chúng ta kết hợp nên một với Chúa Kitô. Và chính thân xác chúng ta là Đền thờ, là một trung gian để Chúa Thánh Thần ngự trong chúng ta. (x. 1Cor 6,13-20) (Bài đọc 2).

Qua các bài đọc của Thánh lễ Chúa Nhật II TN B, xin được đề ra vài tiêu chí của sự trung gian hầu cho các tác nhân trung gian thực sự là những chiếc cầu nối hữu hiệu, cách đặc biệt giữa Thiên Chúa và con người.

1. Biết Chúa và biết người: Anrê đă trở thành một người trung gian đích thực giữa Simon, anh ḿnh với Chúa Giêsu là nhờ ngài vốn biết rơ anh ḿnh. Chuyện anh em ruột biết rơ nhau là chuyện b́nh thường, anh em như thể chân tay. Anrê c̣n là người biết Chúa Giêsu một cách nào đó, nhờ đă đến và ở với Chúa Giêsu ngày hôm ấy, sau khi được thầy Gioan Tẩy giả giới thiệu.

H́nh như ít có ai tranh căi về tiêu chí này. Để làm trung gian th́ cần phải biết cả hai phía. Tuy nhiên cái biết ở đây không dừng lại sự nhận thức bằng lư trí mà c̣n với cả sự gắn bó bằng ư chí. Không mến phục Giêsu hoặc không yêu thương anh ḿnh th́ Anrê chưa chắc đă đóng vai tṛ một trung gian.

2. Được Chúa chọn gọi và trao phó trách nhiệm: Chúng ta nhận ra tiêu chí này qua vai tṛ của Gioan Tẩy Giả. Ngài là đấng được Thiên Chúa chọn gọi ngay từ trong dạ mẹ (x.Gr 1,4-5) Ngài được Chúa trao phó cho trách nhiệm làm tiếng hô trong hoang mạc là dọn đường cho đấng Thiên sai ngự đến (x. Is 40,1-5).

Vấn đề đặt ra là làm sao nhận ra được tiếng Chúa chọn gọi. Dễ được mấy ai có diễm phúc được Chúa Giêsu chọn gọi cách trực tiếp như các tông đồ ngày xưa? Nh́n vào cuộc đời vị Tiền Hô, chúng ta có thể xác định rằng tiếng Chúa gọi chúng ta thường qua các biến cố cuộc sống (các hiện tượng xảy ra với nhà Giacaria), qua việc dạy bảo của mẹ cha (việc ông Giacaria và bà Isave đặt tên cho con trẻ khác với truyền thống nói lên điều này), qua việc nghiền ngẫm Thánh Kinh (nếu không có yếu tố này th́ Gioan hẳn sẽ khó nhận ra vai tṛ của ḿnh qua lời tiên báo của Ngôn sứ Isaia ngày nào).

3. Được Hội Thánh chuẩn nhận: Cái tiêu chí này được thể hiện qua vai tṛ của Tư Tế Hêli. Dù rằng tư tế Hêli c̣n thiếu sót trong một vài trách nhiệm của ḿnh như lơ là việc dạy bảo con cái khiến cho hai người con trai của ông là Khópni và Pinkhát ra hư hỏng (x. 1 Sm 2,22-35), nhưng không ai phủ nhận vai tṛ của ông trong việc hướng dẫn trẻ Samuel lắng nghe tiếng Chúa phán.

Chúng ta cần thú nhận rằng cái tiêu chí thứ ba này thường gây tranh luận cho nhiều người bên trong lẫn bên ngoài Hội Thánh, đặc biệt, với các anh em ly khai. Thế nhưng ḍng lịch sử thánh minh định rơ rằng Thiên Chúa đă dùng con đường này, phương thức này. Phương thức này, con đường này đă manh nha h́nh thành trong thời Cựu Ước qua việc Thiên Chúa truyền lệnh cho Môsê cắt đặt Aaron làm Tư Tế và chọn chi tộc Lêvi lo việc tế tự (x.Xh 4,13-16; 28,1-5). Và đến thời Tân Ước, Chúa Giêsu đă minh nhiên thiết lập Hội Thánh trên các Tông đồ và trao quyền tài thẩm cho các ngài (x. Mt 16,13-19; Ga 20,19-23). Trong thực tế, dù là cá biệt, nhưng vẫn tồn tại hiện tượng “thầy cả Hêli”. Ước ǵ Kitô hữu chúng ta làm theo lời dạy của Chúa Cứu thế: “Các kinh sư và những người Pharisêu ngồi trên toà Môsê mà giảng dạy. Vậy những ǵ họ nói th́ anh em hăy làm, nhưng đừng theo hành động của họ…” (Mt 23,2-3).

Đến với Thiên Chúa, gặp gỡ Thiên Chúa là một diễm phúc của nhân loại chúng ta. Thiên Chúa đă tạo các trung gian là để cho mọi người có thể đến với Người, gặp gỡ Người cách thuận lợi dễ dàng và hữu hiệu theo hoàn cảnh, khả năng và điều kiện của từng người. Chính v́ thế các tác nhân trung gian măi luôn càn thiết cho nhân loại chúng ta. Tuy nhiên các tác nhân trung gian ấy vẫn ở bên ngoài chúng ta. Có một tác nhân gần gủi, thiết thân nhất với mỗi người chúng ta đó là chính con người, thân xác chúng ta. Chúa Kitô đă tự hiến thân ḿnh trong h́nh bánh rượu hiến tế trên các bàn thờ. Con người, thân xác chúng ta là nơi Chúa muốn đến để nên một với chúng ta. Dù chằng đáng Chúa ngự vào, nhưng với tâm hồn khiêm nhu, xin Chúa làm cho tâm hồn, thân xác chúng ta được lành mạnh th́ chúng ta sẽ làm một với Chúa cách trọn vẹn. Và Nước Trời đang ở giữa chúng ta (x. Lc 17,21).

 

18. Đến mà xem – AM Trần B́nh An

Hành tŕnh đến với Chúa ai cũng đều trải qua nhiều bước, lắm khi thăng trầm, gian lao, thử thách, chứ chẳng mấy khi êm ả như hai ông Anrê và Gioan, đă khéo léo theo một lộ tŕnh khá suôn sẻ đến ơn gọi. Tiên quyết, hai ông đă được ông Gioan Tẩy Giả chuẩn bị sẵn sàng hành trang. Nếu không có tấm ḷng thành khẩn, hai ông đă không t́m đến với vị Tiền Hô khổ tu, để qua từng bước Thanh tẩy và khởi sự truy tầm ơn gọi.

Khi từ biệt gia đ́nh, thân quyến, bè bạn, xóm làng để ra đi làm môn đệ ông Gioan Tiền Hô, hai vị cũng đă nhiệt t́nh hưởng ứng lời kêu gọi thống hối, ăn năn, hầu sẵn sàng và xứng đáng diện kiến Đấng Cứu Thế. Một điều kiện ắt có cho bất cứ ai muốn t́m gặp Chúa.

San bằng những hầm hố tham lam, ham muốn đê tiện xấu xa, uốn nắn những khúc khuỷu lắt léo điêu ngoa, man trá, dối gian, cùng tẩy xóa tội nhơ qua Phép Rửa, hai vị mới có hội truy t́m Ơn Gọi trên con đường thiên lư.

Nhưng ḱa lạ thay, chính Chúa Giêsu lại chủ động mời gọi nhị vị, khi thấy họ chỉ dám lẽo đẽo, đeo bám theo Ngài xa xa. Nên Ngài mới ngoảnh mặt ngó lại, thân thương hỏi họ: “Các anh t́m ǵ thế?” Họ đáp: “Thưa Rabbi, Thầy ở đâu? “Người bảo họ: “Đến mà xem.”

Điều kỳ lạ trong đoạn Tin Mừng này theo thánh sử Gioan, là câu trả lời của nhị vị đó lại là một câu hỏi ngược lại Chúa. Có lẽ họ quá sức bối rối, v́ cảm thấy Chúa đă nh́n thấu tâm can, biết tỏ tường mong muốn nhiệt thành của họ, nên thay v́ trả lời với Ngài: “Chúng con t́m Ngài,” th́ họ lại mau mắn tôn Ngài làm Sư phụ, t́nh nguyện làm đệ tử chân truyền: “Thưa Rabbi, Thầy ở đâu?”

Nhưng Sư phụ Giêsu không vội trả lời cho họ, v́ thực ra Ngài sống vô gia cư, làm ǵ có nhà cửa, dinh thự, lầu son gác tía. Ngài cũng chẳng có nơi trú ẩn cố định, th́ biết lấy địa chỉ nào cho các tân đệ tử. Bởi chưng“Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9, 58). Vậy dưới con mắt thế gian, theo Thầy Rabbit Giêsu th́ cũng như phiêu lưu cùng Thầy.

Người ngoài không hiểu được tại sao người ta theo tiếng gọi của Chúa, họ cho ta là điên. Chính Chúa Giêsu cũng bị Hêrôđê gọi là điên, và chúng ta hănh diện được ở trong “nhà thương Biên Ḥa” của Chúa. (ĐHY Fx Nguyễn Văn Thuận, ĐHV 68)

Chưa hết, khi đến xem tận mắt, biết nơi tạm trú xuềnh xoàng, nghèo nàn, xác xơ của Sư phụ, họ đă ở lại với Người ngày hôm ấy.Một quyết định dại dột và bất ngờ với thiên hạ, nhưng là chọn lựa sáng suốt tuyệt vời của người theo Chúa. Bởi chưng họ đă t́m được Minh Chủ, đấng mà thầy cũ của họ đă loan báo vô cùng tôn kính: “Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người.”(Ga 1, 27)

Thật vậy, gặp và sống bên Chúa Giêsu c̣n ǵ vui thích hơn, chẳng có ǵ trên thế gian có thể sánh nổi. Nên Chúa đă mời gọi: “Tất cả hăy đến với ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng. Ta sẽ bổ sức cho các ngươi. Hăy mang lấy ách ta và hăy học cùng ta, v́ ta dịu hiền và khiêm nhường trong ḷng, và tâm hồn các ngươi sẽ được b́nh an. V́ ách của ta êm ái, gánh của ta nhẹ nhàng” (Mt 11:30).

Lạy Chúa Giêsu, khi xưa Ngài đă kêu gọi các môn đệ, nay xin luôn nhắc nhở con dấn bước theo Ơn Gọi, để con được sống trong t́nh yêu vô biên của Ngài.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ cầu bầu con luôn biết t́m đến nương náu bên Chúa Giêsu qua Lời Chúa và Thánh Thể, hầu con được sung măn hồng ân cứu độ. Amen.

 

19. Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Văn Nam

“Họ đă đến xem chỗ Người ở

Và ở lại với Người ngày hôm ấy”

Thiên Chúa luôn kêu gọi và muốn con người cộng tác trong công tŕnh cứu độ. Đó là chủ đề của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay.

Thiên Chúa quyền phép vô cùng, làm được mọi sự. Nhưng Ngài không muốn làm một ḿnh, mà luôn kêu gọi con người cộng tác với Ngài.

- Khởi đầu lịch sử cứu độ, Thiên Chúa chọn ông Abraham làm cho ông trở nên cha của mọi dân tộc đông đúc. Từ ḍng đời này phát sinh Đấng Cứu Thế.

- Để giải phóng dân Do Thái khỏi ách thống trị của đế quốc Ai Cập, Thiên Chúa đă chọn Môisen lănh đạo dân Do Thái.

- Để có một lănh tụ dẫn dắt dân Ngài, Thiên Chúa đă chọn kẻ nhỏ nhất, yếu đuối nhất. Đó là cậu bé Đavít.

- Để cho lời hứa ban Đấng Cứu Thế được thực hiện, Thiên Chúa đă chọn Đức Maria, một thiếu nữ vô danh miền Nazaret.

- Để tiếp tục công việc loan báo Tin mừng và cứu độ trần gian, Chúa đă chọn 12 tông đồ, 72 môn đệ.

Thiên Chúa luôn kêu gọi và muốn con người cộng tác với Ngài trong việc cứu độ nhân thế. Phụng vụ Lời Chúa hôm nay chứng minh rất rơ chân lư trên:

Thiên Chúa chọn và gọi Samuel để ông thay thế thầy cả Heli. Ngài gọi ông 3 lần và Samuel đă thưa: “Xin Ngài cứ phán, tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe”.

Thế là Samuel đă trở thành thủ lĩnh dân Do Thái.

Bài Tin mừng ghi lại biến cố Chúa Giêsu gọi và chọn 3 tông đồ đầu tiên là Gioan, Anrê và Phêrô. Các tông đồ đi theo Chúa, đến gặp gỡ Chúa và ở lại với Người. Chính Chúa Giêsu đă gọi họ đích danh: “Anh là Simon, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha”.

Ơn gọi làm môn đệ Chúa Giêsu khởi đi từ việc đến gặp gỡ Chúa Giêsu. Đi theo Chúa Giêsu hay gặp gỡ Chúa Giêsu là bước đầu cần thiết để trở thành môn đệ. Gặp gỡ gắn bó với Chúa Giêsu là mục đích tối hậu của người môn đệ (Ga 1,37). Sau đó những công việc mục vụ và rao giảng sẽ là thành quả của việc gặp gỡ này.

Từ việc gặp gỡ “đến mà xem” tới việc ở lại với Người. Trăm lần nghe không bằng một lần thấy; ở lại với Người để thấy, để hiểu, để yêu mến và noi gương sống như Người.

Gặp gỡ Đức Kitô trong cuộc sống của ḿnh, rồi phải giới thiệu Chúa đến với tha nhân qua việc chu toàn bổn phận mà Chúa trao phó. Đó là bổn phận, sứ mạng của người môn đệ Chúa Kitô và người kitô hữu.

Theo đạo Công Giáo không phải đi theo một tổ chức hay gia nhập một đảng phái… nhưng là đi theo một nhân vật độc đáo là Đức Giêsu và qua Chúa Giêsu đến với Chúa Cha.

Qua Tông Huấn Lời Chúa, Đức Giáo Hoàng Benêđictô XVI nhắc nhở chúng ta: “Đời sống Kitô hữu có đặc tính chủ yếu là gặp gỡ Chúa Giêsu, Đấng hằng kêu gọi chúng ta bước theo Ngài” (Verbum Domini số 72).

Làm cách nào chúng ta có thể gặp gỡ Đức Giêsu trong cuộc sống hôm nay?

- Gặp gỡ Chúa trong thánh kinh, trong lời của Người, học hỏi, suy niệm lời Chúa. Thánh Giêrônimô dạy: “Không biết Kinh thánh là không biết Đức Giêsu”.

- Cao điểm của cuộc gặp gỡ Đức Giêsu là thánh lễ. V́ thánh lễ là trung tâm đời sống Giáo hội và đời sống Kitô hữu. Tông huấn Verbum Domini số 52 dạy: “Chính Chúa Giêsu đă hiện diện trong lời của Người, v́ chính Người nói khi ta đọc kinh thánh trong Giáo hội”.

- Gặp gỡ Đức Giêsu qua việc cầu nguyện và suy niệm lời Chúa hằng ngày.

- Gặp gỡ Đức Giêsu một cách cụ thể qua việc bác ái, giúp đỡ những người nghèo khổ… “Cho anh em một chút nước lạnh, là cho chính Chúa”.

Ngày xưa Chúa kêu gọi Samuel, các tông đồ Gioan, Anrê, Phêrô… Ngày nay Chúa cũng kêu gọi mỗi người chúng ta làm môn đệ để đem Tin mừng cho anh em. Chúng ta hăy mau mắn, quảng đại đáp lại lời mời gọi của Chúa như các môn đệ, như Samuel xưa: “Lạy Chúa, xin hăy phán, này tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe”.

 

20. Thi hành sứ vụ nhân danh Ngài.

(Suy niệm của Yvane Fournier-Guérard)

Sứ vụ được thực hiện do các chứng nhân. Nhờ tiếp xúc với Chúa Giêsu, họ hiểu được vai tṛ Phúc Âm hóa của họ.

Một vị tiền hô.

Khi Chúa Giêsu bắt đầu cuộc đời công khai của Ngài, chiếc ŕu đă đặt bên gốc cây. Một vị ẩn sĩ, Gioan Tẩy Giả, loan báo Nước Trời và lớn tiếng đ̣i hỏi người ta hoán cải con tim để đón tiếp Đấng Mêsia đang đến. Bằng dấu chỉ Phép rửa trong đó tín đồ được d́m vào ḍng nước sông Giođan để lấy lại sự thanh sạch của con tim. Gioan nhắc nhở mọi người rằng một Đấng khác sẽ đến và thanh tẩy trong Thánh Thần.

Những ǵ Gioan đă làm trong hoang địa: quy tụ môn đệ, rao giảng sự thống hối và mong đợi một vương quốc sắp tới, đều đă chuẩn bị người ta nghe lời Chúa Giêsu. Bởi v́ trước đó quần chúng đă thức tỉnh trước sứ điệp thiêng liêng của Gioan nên họ đón tiếp Chúa ân cần hơn và đă hiểu lời Ngài hơn.

Tỉnh thức là giai đoạn đầu tiên của việc gặp gỡ Thiên Chúa.

Một lời sống động.

Rồi chiên Thiên Chúa mà Gioan Tẩy Giả nh́n nhận là lớn hơn ḿnh đă đến. Mảnh đất đă sẵn sàng nên hạt giống có thể gieo được. Chúa Giêsu thực sự bị thu hút bởi lời rao giảng của Gioan. Ngài đă nh́n thấy những đám đông được Gioan thuyết phục và những con người tự nh́n nhận ḿnh là kẻ tội lỗi. Ngài đă xin Gioan làm phép rửa cho Ngài. Ngài đă nhận ra mảnh đất tốt lành, nơi đó cỏ dại ích kỷ, hận thù, tội lỗi của dân Ngài đă được nhổ sạch.

Chúa Giêsu đă đi theo Gioan và từ nay ông sẽ theo Ngài và sẽ khuyên các môn đệ của ông cũng làm như vậy nữa.

Giai đoạn thứ hai của sứ vụ là tiếp đón Đấng đang đến cùng với sứ điệp và chân lư của Ngài.

Đây không chỉ là một tṛ chơi.

Anh chị em c̣n nhớ tṛ chơi điện thoại được dùng trong những buổi sinh hoạt hay trong những lớp dạy về truyền thống chứ? Người thứ nhất tham gia tṛ chơi rỉ tai người thứ hai một sứ điệp ngắn và người này nói lại cho người thứ ba, v.v… đến người cuối cùng th́ ít khi sứ điệp c̣n giữ được nguyên vẹn như ban đầu. V́ nghe không rơ nên các sứ giả liên tiếp nhau thay đổi sứ điệp được truyền đi và như vậy đă phản bội chính sứ điệp.

Các môn đệ đầu tiên không phản bội sứ điệp. Sau khi đi theo Chúa Giêsu theo lời giới thiệu của Gioan, sau khi nh́n thấy và đích thân nghe vị tôn sư, họ đă mời anh em và bạn bè của họ đến gặp Ngài.

Chính nhờ lưu lại với Ngài mà việc hoán cải con tim đă được thực hiện. Ngôn sứ Samuel cũng đă sống kinh nghiệm này, và dân Samari đă diễn tả đúng chân lư này khi nói với người phụ nữ Samari: “Không phải v́ những ǵ chị kể cho chúng tôi mà chúng tôi tin, nhưng bởi v́ bản thân chúng tôi đă được nghe Ngài”. Nhưng cần phải có ngôn sứ Êlia trong Cựu Ước, cần phải có các môn đệ đầu tiên và người phụ nữ Samari để cho người ta đến với Chúa Giêsu.

Đây là giai đoạn thứ ba của việc Phúc Âm hóa: chúng ta được mời gọi loan báo cho kẻ khác con đường dẫn đến Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin hăy phán, tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe.

Chúng ta là những lời sống động của Thiên Chúa bằng cuộc sống hơn là bằng lời nói. Phải đích thân gặp gỡ Ngài, lắng nghe Ngài, lớn lên trước mặt Ngài và tôn vinh Ngài bằng thân xác chúng ta được xem như đền thờ của Ngài. Chứng nhân không vượt qua giai đoạn cuối này là một chứng nhân giả. Lời của họ trống rỗng và sứ điệp của họ rất có nguy cơ bị méo mó bởi chính những cách nh́n riêng của họ.

Bài Tin Mừng hôm nay nói về sứ vụ như sau: “Hăy đến mà xem”. Kẻ lớn lên trước mặt Chúa, như Samuel, có lẽ không tự ḿnh ư thức được rằng “không lời nào của họ là không có hiệu quả”, nhưng đă xảy ra đúng như vậy.

Được gọi với tư cách là ông bà, cha mẹ, với tư cách là giới trẻ, với tư cách là những người đă chịu phép rửa để truyền đạt đức tin, chúng ta hăy xin Chúa Giêsu giữ chúng ta lại bên cạnh Ngài. Xin cho luật t́nh yêu của Ngài trở nên thiết thân với chúng ta như tác giả thánh vịnh và cho chúng ta biết nói: “Này con đây” trong mọi hoàn cảnh, trong lúc “miệng chúng ta loan báo t́nh yêu và chân lư của Ngài cho toàn thể đại hội”. Khi đón tiếp Ngài đến trong Thánh lễ này, chúng ta hăy thưa: “Lạy Chúa, này con đây, con xin đến để thực thi ư Chúa”.

 

21. Chiên Thiên Chúa – Lm Vũ Đ́nh Tường

Thánh Danh ‘Chiên Thiên Chúa’ được thánh Gioan Tiền Hô dùng để chỉ Đức Kitô Cứu Thế. Có lẽ đây là lời tiên tri quan trọng nhất trong cuộc đời rao giảng của Gioan, đấng đi trước dọn đường cho Chúa Cứu thế. Đây cũng là lời tiên tri cuối cùng của Ngài trước khi chịu xử trảm chém đầu dưới tay hoàng đế Hêrôđê. Ngoài giải thích linh ứng bởi Thánh Thần th́ không c̣n giải thích nào thích hợp hơn làm sáng tỏ điều ǵ dẫn đến việc Gioan giới thiệu Đức Kitô với các môn đệ ḿnh khi ông gọi Ngài là Chiên Thiên Chúa. Điều Gioan với thiệu với môn đệ ḿnh xưa kia nay được Kitô hữu tuyên xưng ba lần trước khi đón nhận Ḿnh và Máu Thánh Chúa. Khi Gioan tuyên xưng Đức Kitô là ‘Chiên Thiên Chúa’ ngài có lẽ không hiểu rơ ràng như ngày nay chúng ta biết đó là việc Đức Kitô chịu chết thay cho nhân loại, xoá tội trần gian và sống lại để ban sự sống trường sinh cho nhân loại.

Điều chắc chắn là h́nh ảnh chiên hiến tế thánh Gioan biết có nguồn gốc xa xưa từ Cựu Ước. Cả hai biến cố lịch sử trọng đại đều liên quan đến h́nh ảnh chiên hiến tế, được ghi nhận trong cuốn sách đầu trong Cựu Ước là sách Sáng Thế Kí chương 12-13 và 22.

Biến cố lịch sử trọng đại thứ nhất Yavê giải thoát dân Ngài khỏi thời ḱ nô lệ dưới triều đại của Pharaô. Trong ngày đó gia đ́nh dân Chúa chọn giết con chiên làm bữa ăn và dùng máu chiên bôi trên khung cửa trước nhà. Nhà nào có máu chiên trên khung cửa mọi người được b́nh yên và thoát nạn chết. Sau đó toàn dân Israel an toàn ra đi khỏi vùng đất nô lê, vượt qua Biển Đỏ. Biến cố này phát sinh ngày lễ kính hàng năm của dân tộc Do Thái đó là lễ Vượt Qua tưởng niệm ngày được tự do, giải thoát khỏi ách nô lệ của ngoại bang.

Biến cố thứ hai Yavê Thiên Chúa thử tổ phụ Abraham khi nói với ông hăy hiến tế người con duy nhất là Isaac cho Ngài. Để chứng tỏ ḷng yêu mến Yavê hơn chính bản thân ḿnh Abraham thương con nhưng Ngài thương Thiên Chúa nhiều hơn nên không ngần ngại hiến tế con một ḿnh cho Yavê. Thiên Chúa sai Thánh Thần Chúa xuống can thiệp cứu Isaac khỏi chết và thay thế bằng một con chiên sừng mắc bụi gai. Điều này dẫn Abraham trở thành tổ phụ của những ai có ḷng tin vào Thiên Chúa.

Thời Cựu Ước biến cố bôi máu chiên trên khung cửa trước nhà trở thành biểu tượng của an toàn, của bào vệ dân Israel khỏi sự chết. Ngoài ra chiên c̣n là h́nh ảnh của giải thoát khỏi t́nh trạng nô lệ để được sống tự do. Từ đó phát sinh ngày mừng kính lễ Vượt Qua hàng năm. Thịt chiên là thực phẩm chính trên bàn ăn của các gia đ́nh ở phương Tây, là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng chính nuôi cơ thể. Lông chiên giữ cơ thể ấm suốt mùa đông giá rét. Chiên Thiên Chúa thực hiện nhiều điều ḱ diệu ngoài sự suy hiểu của con người. Ngoài việc nuôi dưỡng tâm linh Kitô hữu, máu Chiên Thiên Chúa xoá sạch tội trần gian và việc Đức Kitô sống lại từ cơi chết ban sự sống trường sinh cho nhân loại. Từ đó biến chúng ta thành con cái Thiên Chúa thừa hưởng những hồng ân Thiên Chúa ban cho Đức Kitô, Con yêu dấu Ngài.

Chúng ta không những tránh khỏi sự chết, c̣n được ban cho sự sống trường sinh khi Đức Kitô gánh tội trần gian chịu khổ h́nh vào đúng dịp lễ Vượt Qua của người Do Thái. V́ thế chúng ta có thể nói nhờ vào cuộc tử nạn và Máu Thánh Đức Kitô đổ ra chúng ta Vượt Qua được sự chết tiến đến đất hằng sống trường sinh.

 

22. Này Chiên Thiên Chúa – Charles E. Miller.

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’)

Môn chơi chữ có thể rất vui. Một số người nói một từ và bạn có thể trả lời theo những ǵ đến trong tâm trí bạn. Thí dụ, tôi nói “nhỏ” và bạn nói “lớn”. Tôi nói “bóng đá”, bạn nói “bóng chày”. Gioan Tẩy Giả nói Đây Chiên Thiên Chúa” và chúng ta có thể nói “cái ǵ?”.

Để tŕnh bày Chúa Giêsu. Thánh Gioan Tẩy Giả đă có thể làm tốt hơn khi tuyên bố: “Hăy chiêm ngắm, đó là Chúa của các ngươi” hoặc “Đó là Đấng Cứu Độ” hay “đấy là Đức Kitô” không hay hơn sao? Tất cả những tước hiệu này xem ra diễn tả rơ ràng hơn: “Chiên của Thiên Chúa”.

Thật ra, đối với người Do thái, tước hiệu mà Gioan Tẩy Giả rao giảng th́ từ: “Chiên Thiên Chúa” gợi lên trong tâm trí họ toàn bộ giáo lư đức tin của dân riêng Thiên Chúa. Ngay lập tức, họ nghĩ rằng không phải là một con chiên nhỏ bé nhưng là sự lớn lao của quyền năng và ḷng thương xót Chúa hướng đến họ qua dấu máu của con chiên, nhờ đó họ được cứu thoát khỏi ách nô lệ ở Ai Cập và được mang đến sự tự do và đời sống mới nơi đất Hứa. Mỗi năm và dịp lễ Vượt Qua, họ lại tưởng nhớ và mừng lễ Cứu Độ bằng việc tham dự vào bữa ăn tối Vượt Qua.

Trong Thánh Lễ, việc mừng sự cứu độ của chúng ta trong Đức Kitô, chúng ta nh́n lên Ḿnh và Máu Chúa, chúng ta nhận biết Người bởi chúng ta hiểu những lời của vị linh mục: “Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian”. Khi chúng ta nghe những lời này trước khi rước lễ, chúng ta được mời gọi nhớ lại những ǵ mà Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta, Người như Chiên Vượt Qua. Chúng ta diễn tả niềm tin của chúng ta trong những lời tuyên xưng Thánh Thể. Khi nhớ chiên Vượt Qua đă bị hy sinh sát tế như thế nào, chúng ta được mời gọi suy niệm về chung kết là việc Chúa ngự đến như là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ thế gian này: “Đức Kitô đă chết, Đức Kitô đă sống lại, và Chúa Giêsu Kitô sẽ đến trong vinh quang”.

Khi suy niệm về sự giải thoát đă ban cho các tổ phụ chúng ta, trong đức tin, chúng ta được mời gọi suy niệm về việc được giải thoát khỏi tội lỗi của chúng ta: “Lạy Chúa, bằng thánh giá và sự Phục Sinh của Người, Người đă cho chúng con được tự do. Chúa là Đấng Cứu Độ thế gian”. Khi suy nghĩ về đời sống mới của các tổ phụ tinh thần của chúng ta nơi đất Hứa, chúng ta được mời gọi suy niệm đời sống mới của chúng ta trong Đức Kitô: “Bằng cái chết, Người đă tiêu diệt sự chết nơi chúng ta, bằng việc sống lại, Người đă phục hồi sự sống cho chúng ta”. Khi suy niệm về các tổ phụ đă kỷ niệm sự giải thoát của ḿnh bằng việc dự phần vào bữa tối Vượt Qua, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm việc chúng ta cử hành ơn cứu độ của chúng ta nơi bữa tiệc Thánh Thể: “Lạy Chúa Giêsu Kitô khi chúng con ăn bánh và uống chén này, chúng con tuyên xưng việc Chúa chịu chết, cho tới khi Chúa lại đến”.

Khi mời gọi mọi người lên hiệp lễ, vị linh mục nói: “Phúc cho những ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa” hay là câu “Hạnh phúc thay những người được gọi đến dự bữa tối với Người”. Bữa tối hoặc tiệc đây không phải ám chỉ bữa tối sau hết nhưng là tiệc cưới của Con Chiên Thiên Chúa trên thiên đàng nơi mà các tín hữu của Chúa mừng Giao Ước t́nh yêu và trung tín (Kh 19,9). Bữa tiệc huy hoàng và đời đời là số phận của chúng ta bởi v́ chúng ta nên một với Chiên Thiên Chúa ở trên trời.

Không có từ đơn giản nào mà thích hợp như một câu trả lời khi chúng ta nghe xướng: “Đây Chiên Thiên Chúa”, nhưng một cuộc suy niệm sâu xa về sự phong phú của tước hiệu này sẽ giúp chúng ta hiểu biết Chúa Giêsu tốt hơn và dẫn chúng ta tới dự phần đầy đủ hơn nơi bữa tiệc Thánh Thể của Chiên Thiên Chúa.

 

23. Đây là Chiên Thiên Chúa

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

Nếu Chúa nhật lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, lời Chúa mời gọi chúng ta sống sao cho xứng đáng làm con Thiên Chúa, th́ Chúa nhật này, lời Chúa mời gọi chúng ta đặt ḿnh vào vị trí của nhóm môn đệ Gioan Tẩy Giả, nhất là của chính Gioan để thấy được kế hoạch của Thiên Chúa đối với nhân loại.

Tin Mừng hôm nay tŕnh bày Gioan Tẩy Giả thật đúng với sứ mạng của ông là chỉ cho mọi người biết Đấng Cứu Thế: Khi ấy, Gioan đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông nh́n theo Chúa Giêsu đang đi mà nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa" (Ga 1, 35). "Chúa Giêsu đang đi và Gioan nói", là một hành động diễn tả sự liên tục giữa Giao ước cũ với Giao ước mới, v́ Gioan Tẩy Giả đă không nói về chính ḿnh, lời của ông được rút ra từ Cựu Ước đan vào nhau để làm sáng tỏ các mầu nhiềm. Năm Phụng vụ mới bắt đầu, Gioan Tẩy Giả thấy sự huy hoàng rực rỡ của Giao Ước mới đang ló rạng th́ giới thiệu cho môn sinh: "Đây là Chiên Thiên Chúa"(Ga 1, 35).

Đây là Chiên Thiên Chúa

Gioan Tẩy Giả khẳng định, Chúa Giêsu là Chiên duy nhất chết thay cho đoàn chiên là nhân loại chúng ta. Không những thế, Người c̣n phục hồi tất cả những người sống trên trần gian này và cứu chuộc mang về cho Thiên Chúa Cha. Một người chết thay cho toàn dân, để tất cả vâng phục Thiên Chúa; chỉ một ḿnh Người đă chịu chết để cứu chuộc muôn người… Thật thế, con người đă trở nên hư hỏng, sống trong tội lỗi và đây là lư do tại sao Chúa Cha đă cho Con của Ngài tới làm giá chuộc tội cho toàn dân (Ga 3,16), v́ Người là đầu và tất cả mọi sự ở trong Người. Để tất cả chúng ta sống trong Người, Người đă vui ḷng chịu chết và hiến tế v́ chúng ta, Người đă chết thay cho chúng ta, và sống lại v́ chúng ta. Người là Chiên thật xóa bỏ tội trần gian.

Gioan là mẫu người t́m Chúa và giới thiệu Chúa

Gioan Tẩy Giả là một tiên tri, biết nhận ra Thiên Chúa giữa loài người. Chúa Giêsu là Lời Thiên Chúa mặc khải trong xác phàm, Lời làm người để cứu chuộc nhân loại. Gioan là tiếng, ông là người lồng tiếng truyền đi sứ điệp mà ông đă được ủy thác. Sứ điệp Gioan truyền là một công thức tuyệt đẹp và độc đáo, được lặp đi lặp lại ở tất cả các Bí tích Thánh Thể, được thể hiện dưới ánh mắt thân mật và yêu thương nhất của Thiên Chúa: "Đây là Chiên Thiên Chúa"(Ga 1, 35). Đây sự tuyển chọn Abraham và giao ước với nhà Đavid, đây là người Tôi Tớ đau khổ và là Chiên Vượt Qua. Đây là Đấng Cứu Thế muôn dân mong đợi. Đây là Con Thiên Chúa.

Gioan không nói như là tiếng vọng của tiên tri Isaia, nhưng ông đă viết lời tiên tri một lần nữa và tham gia việc thực hiện lời hứa. Ông đă sống đến cùng ơn gọi của ḿnh là chỉ cho mọi người biết Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa.

Noi gương Gioan sống chứng nhân

Con người t́m Thiên Chúa, Thiên Chúa đáp trả, con người lại tiếp tục giới thiệu Chúa cho tha nhân, nên câu hỏi: "Thưa Thầy, Thầy ở đâu?" (Ga 1, 38). là câu hỏi mà hai anh em nhà Anrê và Simon Phêrô sau khi được thầy Gioan giới thiệu đă hỏi Chúa. Khuynh hướng tự nhiên nơi tâm hồn con người là đi t́m Chúa, và Thiên Chúa luôn luôn mau mắn đáp trả, mời gọi con người đến gặp Người: "Hăy đến mà xem" (Ga 1, 39)..

Hai chàng thanh niên hỏi, rồi một câu trả lời có tính cách như là một lời mời gọi. Khi nghe những lời chỉ dẫn đó, hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả liền theo Chúa Giêsu. Phải chăng đây là một biến cố đầy ư nghĩa? Khi Chúa Giêsu hỏi: "Các ngươi t́m ǵ?" (Ga 1, 38) th́ hai môn đệ trả lời cũng bằng một câu hỏi: "Thưa Thầy, thầy ở đâu?" (Ga 1, 38). Và Chúa Giêsu trả lời: "Hăy đến mà xem". Họ đă đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy, lúc đó độ chừng giờ thứ mười (Ga 1, 39). Họ trở thành những môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu. Đến lượt Anrê, Anrê lại dẫn anh ḿnh là Simon Phêrô đến với Chúa Giêsu.

Khi tŕnh bày lại cuộc gặp gỡ nầy với Chúa Giêsu, phụng vụ ngày hôm nay muốn chứng tỏ điều trọng nhất trong đời sống chúng ta. Hỏi là kết quả của cuộc kiếm t́m. Con người đi t́m Thiên Chúa. Con người, tận trong thâm tâm, hiểu rằng cuộc kiếm t́m này là định luật nội tại của cuộc sống. Con người đi t́m đường đi trong thế giới hữu h́nh, và qua thế giới hữu h́nh, con người đi t́m cái vô h́nh trong cuộc hành tŕnh thiêng liêng của ḿnh.

Mượn lời vịnh gia, mỗi người trong chúng ta có thể thân thưa với Chúa: "Lạy Chúa, con đi t́m nhan thánh Chúa; xin đừng ẩn mặt xa con" (Tv 27. 26, 8-9). Mỗi người trong chúng ta có một lịch sử cá nhân riêng và mang trong ḿnh khát vọng muốn thấy nhan Thiên Chúa, một ước vọng mà người ta cảm thấy cùng với việc khám phá thế giới tạo vật.

Chúng ta hỏi Chúa: "Thưa Thầy, Thầy ở đâu?" (Ga 1, 38). Giáo Hội trả lời cho chúng ta mỗi ngày rằng: Chúa Kitô hiện diện trong bí tích Thánh Thể, bí tích của sự chết và sống lại, trong và nhờ bí tích này, chúng ta nhận ra Thiên Chúa sống động trong lịch sử con người.

Câu trả lời cho câu hỏi: "Thưa Thầy, thầy ở đâu?" C̣n cần phải được nghe như sau: Thầy ở trong tất cả mọi người được cứu chuộc. Đúng vậy, Chúa Kitô, Đấng có những lời ban sự sống đời đời, Đấng là "Đầu của Dân mới và phổ quát của tất cả những con cái của Thiên Chúa" (LG số 13), hiện diện trong dân Người. Gioan đă làm chứng và giải thích về sự nhận biết và tôn thờ cũng như đón nhận Lời để thông phần vinh quan với Lời; hành động đức tin biến chúng ta thành người tôi tớ hợp nhất với người môn đệ dưới chân Thánh Giá: "Đây là Chiên Thiên Chúa "(Ga 1, 35). Đến lượt chúng ta, là thành phần của Giáo hội, thành phần sống động và có trách nhiệm, hăy là những đồ đệ và là những chứng nhân của Chúa Kitô, Đấng mạc khải Thiên Chúa Cha. Hăy sống trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần, Đấng ban sự sống. Amen.

 

24. Chúa Nhật 2 Thường Niên

Bài Tin Mừng hôm nay: Ga 1, 35-42 tŕnh bày cho chúng ta thấy Gioan và Anrê bước theo Chúa Giêsu, (là những Tông Đồ đầu tiên theo Chúa Giêsu làm thành những Tông Đồ nồng cốt cho 12 Tông Đồ sau này). Nh́n vào ơn gọi của hai ông (sự dấn thân quyết liệt, mau mắn bước theo Chúa Giêsu của hai ông,) ta thấy được một vài ư nghĩa:

Người đi theo Chúa Giêsu trước tiên là người có ḷng muốn

Sống trong xă hội thời đó, giống như những người Do Thái khác, Anrê và Gioan cũng có tâm t́nh khao khát, các ông trông mong Đấng Thiên Sai đến để giải thoát họ. Hơn nữa hai ông c̣n muốn "mặt giáp mặt", muốn gặp được Người để thỏa ḷng mong muốn. Bởi v́ Người là "Chiên Thiên Chúa", là Đấng Thiên Sai, là Đấng Messia mà các ông đợi trông, muốn gặp mặt tự trong cơi ḷng. Nên khi nghe Gioan Tiền Hô giới thiệu, Anrê và Gioan tin ngay và liền bước theo Đức Giêsu.

Phần ḿnh, Đức Giêsu muốn hai ông ư thức việc làm của ḿnh, Người muốn các ông xác tín rơ ràng việc đi theo của hai ông: hai ông đi theo Đức Giêsu để làm cái ǵ ? Người muốn các ông không phải là những người hùa theo đám đông, nghe dư luận, làm theo tiếng nói quần chúng mà không có sự ư thức. Phải có sự phân định ơn gọi rơ ràng, có sự thúc bách tận cơi ḷng. Sống có mục đích. V́ thế Người hỏi: "các ngươi t́m ǵ?"

Đối với ḿnh, v́ đă có ḷng khao khát, đă có thao thức, đă có để tâm nghe, đă có ḷng muốn bước theo nên khi nghe được tiếng Người hỏi, và như bắt được tần sóng, hai ông đă thưa: "Thầy ở đâu?". Ḷng muốn của các ông được Đức Giêsu tạo ban cho cơ hội bước theo Đức Giêsu.

Người đi theo Chúa là người có ḷng mến Chúa thật sự

T́nh yêu Đức Kitô thật mănh liệt, đă lôi cuốn hai ông. Hai ông đă bỏ Gioan Tiền Hô mà dứt khoát đi theo Đức Giêsu, dám sống dám chết cho Người, dám dấn thân cho Người.

Thế nên nếu ta có thiện chí, có ḷng khát khao thật sự, tận thâm tâm, trong cơi ḷng của ḿnh để bước theo Chúa như hai ông Anrê và Gioan trong bài Tin mừng hôm nay th́ Đức Giêsu sẽ cho ta gặp được chính Người, Người sẽ biến đổi ta. Ḷng mến Đức Giêsu thật sự được thể hiện qua cách đáp trả dứt khoát của hai ông.

"Hăy đến mà xem." Khi nghe Đức Giêsu mời gọi, các ông liền mau mắn bước theo Thầy Chí Thánh Giêsu. Và rồi chẳng những hai ông đến xem mà c̣n ở lại, lưu lại. Nhờ đó hai ông được Đức Giêsu biến đổi. Ở với Đức Giêsu, các ông được sưởi ấm ḷng mến, thắp thêm niềm tin, đón nhận được nguồn b́nh an cần thiết, được bồi bổ t́nh yêu. Hơn nữa các ông c̣n được học biết cách sống của Người: yêu người, yêu Thiên Chúa, biết cầu nguyện, sống đời sống mới. Qua cách bước theo của các ông, chúng ta nhận thấy việc theo Chúa không phải là việc theo thời " người ta đi theo th́ ḿnh cũng đi" hay v́ t́nh cảm ham thích nhất thời " ngày một, ngày hai" ,thích hùa theo dư luận cho vui,..nhưng quan trọng phải chú ư tới là: ư thức việc theo Đức Giêsu của ḿnh là ǵ?. Việc theo Đức Giêsu phải thật sự dựa trên ḷng mến chân thánh, tha thiết, trọn vẹn.

 Người theo Chúa là người biết lắng nghe và đáp lại ư Chúa

Động cơ theo Đức Giêsu thiết yếu dựa trên việc người môn sinh dơi theo tiếng Chúa , ư muốn của Chúa, muốn thực hiện điều Đức Giêsu muốn. Do đó ta phải chuyên chăm cầu nguyện, cầu nguyện liên lĩ, cầu nguyện không ngừng. Khi ta mở ḷng ḿnh ra để ch́m sâu vào trong ơn Chúa, ch́m sâu vào sự hiện diện huyền nhiệm của Đức Giêsu trong cơi ḷng ḿnh, th́ trí ta, ḷng ta sẽ sáng suốt nhận thấy được điều Người muốn, để ta thực thi và chỉ muốn làm đẹp ḷng Người mà thôi. Và khi đó ta không c̣n mong làm điều ḿnh muốn nữa mà là mong muốn thực thi thánh ư Chúa. Nên là người Kitô hữu, ta hăy hoàn toàn dấn thân, toàn tâm toàn ư, đem hết cả tâm trí để bước theo Đức Giêsu, ta sẽ để Người dùng quyền năng theo cách của Người thực hiện chương tŕnh cứu độ qua cuộc đời chúng ta.

Hôm nay Chúa cũng đang mời gọi chúng ta theo Chúa qua Hội Thánh. Chúng ta hăy thành tâm đáp lại lời mời gọi của Chúa. Tuy nhiên cũng giống như các môn đệ, kẻ được mời gọi không dừng lại ở người trung gian mà phải vượt lên tất cả, trực diện với chúa, sống với Chúa, ở lại với chúa. Đây là công việc của mỗi cá nhân mà không ai thay thế . Bên cạnh đó, đến với Chúa, người môn đệ trở thành nhân chứng cho người anh em xung quanh. Chúng ta có trách nhiệm giúp họ, nói về Chúa cho họ, chỉ cho họ về với Chúa. Đó c̣n là bổn phận cấp thiết cho chúng ta .

Xin Chúa cho chúng ta biết can đảm bước theo Chúa và dám sống cho Chúa.

 

25. Gặp gỡ Đức Kitô.

(Trích trong: “Niềm Vui Chia Sẻ”)

Gặp gỡ Đức Kitô, biến đổi cuộc đời ḿnh,

Gặp gỡ Đức Kitô, đón nhận ơn tái sinh.

Gặp gỡ Đức Kitô, chân thành ḿnh gặp ḿnh,

Gặp gỡ Đức Kitô, nảy sinh t́nh đệ huynh”.

Câu điệp khúc của một bài ca sinh hoạt của các bạn trẻ giúp chúng ta ư thức về cuộc gặp gỡ Đức Kitô của hai môn đệ đầu tiên: Arê và Gioan trong Tin Mừng hôm nay. Chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă chọn đoạn Tin Mừng này để làm đề tài cho cuộc gặp gỡ giới trẻ thế giới lần thứ 12 diễn ra vào trung tuần tháng 8 năm 1997 tại Paris, nước Pháp. Theo Đức Thánh Cha, cuộc gặp gỡ rất quan trọng v́ là “khởi điểm của mọi hành tŕnh Đức Tin”.

Nhưng thế nào là gặp gỡ Đức Kitô?

Có lẽ chúng ta đều lúng túng khi được người khác đặt câu hỏi cơ bản này. Chúng ta không biết phải trả lời làm sao, mô tả như thế nào. Chúng ta chưa có kinh nghiệm hoặc một kinh nghiệm rất hời hợt. Cuộc gặp gỡ Đức Kitô của hai môn đệ đầu tiên trong Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy một diễn tiến gồm một số bước: Trước hết là được Gioan Tẩy Giả giới thiệu: “Đây là Con Chiên Thiên Chúa. Đây Đấng xóa tội trần gian”. Hai môn đệ vừa nghe giới thiệu liền đi theo Chúa Giêsu. Nếu hai môn đệ không tức khắc đi theo Chúa Giêsu khi nghe Gioan giới thiệu, hai ông đă bỏ lỡ cơ hội gặp gỡ Đức Kitô và đă không trở thành những môn đệ đầu tiên của Ngài.

Bước thứ hai là đối thoại với Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu là người ngỏ lời trước: “Các anh t́m ǵ thế?” Đức Thánh Cha nói: “Khi ta hỏi Chúa điều ǵ, th́ Ngài luôn hỏi lại ta, người hỏi trở thành kẻ bị hỏi; người t́m kiếm Chúa trở thành kẻ được Ngài kiếm t́m: “Các anh t́m ǵ thế?”. Câu hỏi có vẻ tầm thường như những câu hỏi lúc mới gặp nhau, nhưng đây là một câu hỏi đặt vấn đề cho những ai theo Chúa: Chúng ta t́m ai? Theo Chúa để làm ǵ? Chúng ta chờ đợi nơi Chúa điều ǵ?

Chúa không chờ đợi một câu trả lời của trí tuệ, nhưng chờ đợi một câu trả lời của trái tim, của tâm hồn. Các môn đệ đáp trả bằng một câu vắn gọn: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?” Câu trả lời vắn gọn nhưng biểu lộ ḷng tŕu mến gắn bó muốn dấn bước theo Thầy, muốn chia sẻ nếp sống của Thầy. Chúa cũng không nói địa chỉ, tên đường, số nhà, v́ Ngài “Không có nơi gối đầu”. Ngài chỉ bảo: “Hăy đến mà xem”. “Hăy đến” là lời mời gọi của trái tim rộng mở. Hăy đến mà xem t́nh yêu của Thiên Chúa biểu lộ nơi con người của Đức Giêsu. Đến với Chúa chắc chắn dẫn đến một kinh nghiệm: kinh nghiệm về một t́nh yêu sâu thẳm nhất. Các môn đệ đă đến, đă nh́n thấy nơi Chúa ở. Đây không phải là ngôi nhà vật chất, đây là chính Thiên Chúa. Đến với Chúa Giêsu là đến với Thiên Chúa. Ngài ở với Thiên Chúa, ở trong Thiên Chúa. Đến với Chúa Giêsu là gặp gỡ chính Thiên Chúa: “Ai thấy Thầy là thấy Đấng đă sai Thầy”. Các môn đệ đă kinh nghiệm được điều ấy, nên đă ở lại với Chúa. Ở lại với Chúa là gắn bó với Chúa, kết hợp với Chúa, ở lại trong t́nh yêu của Chúa. T́nh yêu làm cho môn đệ gần gũi với Thầy và sự gần gũi làm tăng thêm t́nh yêu.

Cuối cùng, khi đă kinh nghiệm t́nh yêu của Chúa, Anrê tự nhiên cảm thấy được thúc bách phải chia sẻ niềm tin cho em ḿnh là Simon Phêrô: “Chúng tôi đă gặp Đức Kitô”. Rồi ông dẫn em ḿnh đến gặp Chúa Giêsu. Anrê chắc chắn biểu lộ một sự thích thú rơ rệt. Ông đă sung sướng được gặp Chúa, ông đă khám phá ra Chúa là Đấng Mêsia, Đấng được Thánh Thần xức dầu tấn phong sai đi loan báo Tin Mừng Cứu Độ. Dĩ nhiên, ông c̣n phải ở lại với Chúa Giêsu lâu hơn nữa, c̣n phải t́m hiểu, phải khám phá nhiều hơn. Nhưng giờ đây, ông cùng chia sẻ với em ḿnh, cùng t́m hiểu, cùng khám phá với em và các bạn khác của ông. Niềm tin của ông càng được củng cố, càng lớn lên trong mức độ ông biết chia sẻ cho người khác.

Sau cuộc gặp gỡ đầu tiên đó, các ông trở lại với cuộc sống đời thường. Thế nhưng, từ nay không c̣n là cuộc sống như trước, v́ cuộc gặp gỡ Đức Kitô đă làm thay đổi tận căn. Giờ đây các ông sống với niềm tin Đức Giêsu là Đấng Mêsia –Đấng Thiên Sai Cứu Thế- Chính niềm tin đó điều khiển cuộc sống và làm cho cuộc sống người môn đệ mang một ư nghĩa mới.

Anh chị em thân mến,

Là Kitô hữu, đi lễ, đọc kinh thường xuyên, nhưng thử hỏi, chúng ta có thật đă gặp gỡ Chúa chưa? Đă có lần nào chúng ta choáng váng v́ lần đầu tiên gặp gỡ đích thực với Chúa chưa? Chúa đă có mặt trong cuộc sống của chúng ta chưa? Sao cuộc đời ta vẫn không có ǵ thay đổi, vẫn thấy buồn chán, thất vọng, tội lỗi?...

“Gặp gỡ Đức Kitô, biến đổi cuộc đời ḿnh”. Tại sao cuộc đời tôi chưa được biến đổi? Tôi vẫn sống với con người cũ, tội lỗi, ích kỷ, lười biếng? Tôi như chưa được “tái sinh”, chưa “gặp lại ḿnh”, chưa “nối lại những mối dây huynh đệ” với những người khác? Ấy là dấu Đức Kitô chưa có mặt trong đời tôi. Đă gặp được Chúa là phải có một sự đổi đời. Bởi, sống đạo không phải là sống theo một điều ǵ, đi theo một ai khác hơn là sống theo Đức Giêsu Kitô.

Nhưng ngày nay, gặp gỡ Đức Kitô ở đâu?

Đức Thánh Cha nói: “Đức Giêsu ở bên cạnh chúng ta, nơi những người anh em chúng ta cùng chia sẻ cuộc sống hằng ngày. Gương mặt của Ngài là gương mặt của người nghèo nhất trong những người nghèo; của những người bị gạt ra bên lề cuộc sống, thường là nạn nhân của những cơ chế bất công. Nhà của Đức Giêsu là bất cứ nơi nào con người phải chịu đau khổ v́ các quyền sống của họ bị chối từ, những hy vọng của họ bị phản bội, những lo âu của họ không được biết đến. Nhà của Đức Kitô là chính nơi đó, ở giữa mọi người, nơi mà Ngài yêu cầu chúng ta, nhân danh Ngài, lau khô mọi giọt lệ và nhắc cho những ai cảm thấy một ḿnh cô đơn nhớ rằng chẳng có ai cô đơn hết, nếu họ đặt niềm tín thác vào Ngài”.

Nếu đă gặp được Đức Kitô trong cuộc đời, cuộc đời chúng ta đă được đổi mới như được tái sinh, sẽ từ bỏ con người ích kỷ của ḿnh và bị thúc đẩy chia sẻ niềm tin và cuộc sống với mọi người anh em, nhất là những con người nghèo khổ. Mẹ Têrêxa Calcutta đă gặp Đức Kitô nơi những người nghèo khổ bị bỏ rơi và mẹ đă đem cả cuộc đời để phục vụ hết ḷng. Nếu thực sự đă gặp được Đức Kitô, chúng ta đă trở thành một Kitô hữu năng nổ và tích cực trong cuộc sống, sẵn sàng dấn thân phục vụ Tin Mừng t́nh thương cứu độ của Thiên Chúa cho mọi người.

Như Đức Thánh Cha đă nói: “Cuộc gặp gỡ Đức Kitô rất quan trọng, v́ là khởi điểm của mọi hành tŕnh đức tin”. Đức tin quả là một cuộc hành tŕnh khởi đi từ cuộc gặp gỡ Đức Kitô, đến nhận biết Ngài, yêu mến và gắn bó mật thiết với Ngài. Gắn bó mật thiết đến nỗi sẵn sàng tận hiến cả tâm hồn và thể xác, con người và cuộc sống cho vinh Danh Chúa hơn.

 

26. Thầy ở đâu - Hăy đến mà xem

Suy Niệm

Đoạn Tin Mừng này đă được Đức Thánh Cha dùng làm bài suy niệm cho ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ XII.

Để gặp được Đức Giêsu, cần có người giới thiệu. Gioan đă giới thiệu Đức Giêsu cho hai môn đệ của ḿnh. Ông Anrê cũng đă giới thiệu Đức Giêsu cho em là Simon, và dẫn ông này đến gặp Ngài. Chẳng ai thực sự gặp được Đức Giêsu mà lại không mong giới thiệu Ngài cho người khác.

Đức Giêsu là kho tàng cứ măi lớn lên khi được san sẻ. Hạnh phúc của Gioan Tẩy giả và Anrê là thấy Đức Giêsu và người ḿnh giới thiệu gặp nhau. Họ chấp nhận tự xóa ḿnh. Gioan chấp nhận chia tay với hai môn đệ yêu dấu. Anrê sau này chẳng được nổi tiếng bằng Simon.

Theo lời giới thiệu của Gioan, hai ông đi theo Đức Giêsu. Chẳng rơ họ đă đi theo bao lâu và bao xa. Họ rụt rè không biết bắt đầu câu chuyện thế nào. Đức Giêsu thấy sự lúng túng dễ thương của họ. Chính Ngài đi bước trước, mở đầu cuộc đối thoại.

Các anh t́m ǵ thế?

Câu hỏi này bắt họ phải trở lại với ḷng ḿnh, phải ư thức về nỗi khát khao đang chi phối ḿnh. Tôi đang t́m ǵ? Tiền bạc, tiếng tăm, thỏa măn? Hay tôi đang t́m một Ai đó cho đời tôi một hướng đi? Đức Giêsu gợi chuyện để họ bày tỏ khát vọng của ḿnh.

Thưa Thầy, Thầy ở đâu?

Câu hỏi này tương đương với một câu trả lời. Chúng con muốn biết nhà của Thầy, muốn đến thăm Thầy.

Đến nhà một người là đi vào thế giới của người đó. Hai ông không chỉ muốn biết Đức Giêsu qua lời Gioan. Họ muốn đích thân gặp gỡ Ngài. Chuyện này không ai làm thay được.

Hăy đến mà xem.

Đức Giêsu không giấu hai ông về thế giới của Ngài. Lời mời này vẫn vang vọng đến tai chúng ta. Đừng sợ đi theo Đức Giêsu để đến nhà Ngài. Đừng sợ trao đổi với Ngài như một người bạn. Nơi nào có những người nghèo khổ, bị bỏ rơi, những người cô đơn, bị khinh miệt hay phản bội, những người khác văn hóa và tôn giáo, nơi đó là nhà của Đức Giêsu.

Họ đă đến xem và đă ở lại.

Hai ông đă nhận lời mời ngay lập tức. Không có khoảng cách giữa ước muốn và thực hành. Chúng ta chẳng rơ chi tiết của cuộc hạnh ngộ này, nhưng chắc chắn đó là một kỷ niệm không quên.

Kinh nghiệm của hai ông cũng là của mọi Kitô hữu. Chúng ta phải được giới thiệu Đức Giêsu, phải đích thân gặp Ngài, và phải trở nên người giới thiệu Ngài cho thế giới.

Gợi Ư Chia Sẻ

"Các anh t́m ǵ thế?" Theo ư bạn, người trẻ hôm nay đang làm ǵ? Đang t́m ai? Nơi bản thân bạn, đâu là mối bận tâm lớn nhất của bạn hiện nay?

Bạn có tin Đức Giêsu có thể đem lại câu trả lời cho những vấn đề sâu xa nhất của bạn không? Bạn có tin Đức Giêsu có thể đem lại b́nh an cho thế giới hôm nay không?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu,

nhiều bạn trẻ đă không ngần ngại chọn những cầu thủ bóng đá, những tài tử điện ảnh làm thần tượng cho đời ḿnh.

Hôm nay, Chúa cũng muốn biết chúng con chọn ai, và chúng con thật sự đắn đo trước khi chọn Chúa.

Bởi chúng con biết rằng chọn Chúa là lội ngược ḍng, theo Chúa là bước vào con đường hẹp: con đường nghèo khó và khiêm nhu, con đường từ bỏ và phục vụ.

Hôm nay, chúng con chọn Chúa

Không phải v́ Chúa giàu có, tài năng hay nổi tiếng, nhưng v́ Chúa là Thiên Chúa làm người. Chẳng ai đáng chúng con yêu mến bằng Chúa. Chẳng ai hoàn hảo như Chúa.

Ước ǵ chúng con can đảm chọn Chúa nhiều lần trong ngày, qua những chọn lựa nhỏ bé, để Chúa chiếm lấy toàn bộ cuộc sống chúng con, và để chúng con thông hiệp vào toàn bộ cuộc sống của Chúa. Amen.

 

27. Hành tŕnh ơn gọi – ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Các bài sách thánh hôm nay đều nói về ơn gọi. Ơn gọi của Samuel thật lạ lùng. C̣n ơn gọi của Anrê và Gioan diễn ra nhẹ nhàng hơn. Tuy nhiên, dù mạnh mẽ lạ lùng hay nhẹ nhàng b́nh thường, hành tŕnh ơn gọi nào cũng trải qua bốn giai đoạn.

1- Giai đoạn thứ nhất: Chúa kêu gọi.

Việc Chúa kêu gọi không xảy ra tức khắc trong một lần, nhưng diễn tiến tuần tự, chậm răi với mức độ tăng dần, tuỳ sự đón nhận của người nghe.

Thoạt tiên là một lời kêu gọi nhẹ nhàng qua một thiên hướng, một ước nguyện của người thân, một gương mẫu, một thần tượng. Ở Samuel, đó là ước nguyện của bà mẹ muốn tạ ơn Chúa. Ở Anrê và Gioan, đó là thiên hướng đi t́m lư tưởng.

Sau đó, Chúa có thể dùng các trung gian dẫn ta đến với Chúa. Trong trường hợp Samuel, người trung gian là thày cả Hêli. C̣n trong trường hợp Anrê và Gioan, thánh Gioan Baotixita đă làm trung gian đưa hai môn đệ đến với Đức Giêsu.

2- Giai đoạn hai: Ta đáp trả.

Nếu ta trung thành đáp trả mỗi khi nghe tiếng Chúa kêu gọi, Chúa sẽ tiếp tục gọi ta đi vào những đoạn đường mới, mỗi lúc một khó khăn hơn. Tiếng Chúa mời gọi mỗi lúc một mănh liệt hơn, đ̣i hỏi ta phải trả lời mỗi lúc một dứt khoát hơn. Cho đến một thời điểm quyết định, Chúa sẽ đưa ra lời mời gọi cuối cùng đ̣i ta trọn vẹn dấn thân lên đường theo Chúa. Với Samuel, việc Chúa ba lần cất tiếng gọi chứng tỏ Chúa tha thiết muốn tuyển chọn ông. Với Anrê và Gioan, việc Đức Giêsu mời hai ông đến chỗ Ngài ở đă khiến hai ông phải dứt khoát với quá khứ để bắt đầu một giai đoạn mới.

3- Giai đoạn ba: Sống thân mật với Chúa.

Tuyệt đỉnh của ơn gọi không phải là làm việc cho Chúa, nhưng là sống thân mật với Chúa. Chúa không kêu gọi ta theo một chủ thuyết nhưng kêu gọi ta theo Chúa. Ta đến với Chúa không phải để học những bài học lư thuyết nhưng để tham dự vào sự sống của Chúa. Sự sống của Chúa là sự sống thần linh nâng ta lên hưởng nếm sự ngọt ngào của t́nh Cha - Con thắm thiết. Sự sống của Chúa là t́nh yêu đưa ta vào hạnh phúc của người biết ḿnh được yêu thương.

Trong t́nh yêu Thiên Chúa, tâm hồn ta được gột rửa sạch mọi tội lỗi.

Trong t́nh yêu Thiên Chúa, trái tim ta trở nên dịu dàng, hiền hoà rộng mở để tha thứ và đón nhận mọi người.

Hạnh phúc sống trong t́nh yêu Thiên Chúa lớn lao đến độ biến đổi toàn bộ cuộc đời ta. Ai đă một lần nếm cảm sẽ không c̣n mơ ước điều ǵ khác nữa.

Sau khi được tiếp xúc thân mật với Chúa, trọn cuộc đời Samuel hoàn toàn dâng hiến cho Chúa. Sau một buổi chiều thân mật sống với Đức Giêsu, hai tông đồ Anrê và Gioan gắn bó với Người, cho đến chết v́ Người.

4- Giai đoạn bốn: Làm chứng cho t́nh yêu Chúa.

Cảm nhận được t́nh yêu Thiên Chúa rồi, ta sẽ không thể làm điều ǵ khác hơn là ra đi làm chứng về t́nh yêu đó. Giống như ḍng suối sung măn tràn xuống thành thác, tâm hồn tràn đầy t́nh yêu sẽ cất lên thành lời ca tụng, giới thiệu t́nh yêu Thiên Chúa cho mọi người.

Sau khi gặp Đức Giêsu, Anrê vội vă đi t́m em là Phêrô để dẫn đến giới thiệu với Người. Từ đó, Anrê theo Đức Giêsu cho đến cuối đời. Ông đă đem chính mạng sống làm chứng cho t́nh yêu của Thiên Chúa. Ông đă đổ máu ra để chứng thực t́nh yêu ấy. Ông dám khước từ cuộc sống trần gian v́ ông đă biết đến hạnh phúc đích thực trong t́nh yêu Thiên Chúa. Tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa mời gọi đến sống thân mật với Người trong t́nh Cha-Con thắm thiết.

Lời Chúa vang lên khi ta chịu phép Rửa tội.

Lời Chúa tiếp tục mời gọi ta khi ta lănh nhận các bí tích, khi ta nghe sách thánh, khi ta học giáo lư, khi ta tĩnh tâm, nghe giảng.

Lời Chúa lúc th́ nhẹ nhàng thoang thoảng, khi th́ mănh liệt thiết tha. Nhiều lúc ta tưởng đến nhà thờ vào ngày Chủ nhật là đă đáp lại tiếng Chúa mời gọi, nhưng không phải. Chúa không mời gọi ta chỉ đi lễ như trả nợ. Chúa muốn ta thực sự gặp gỡ Người, tiếp xúc thân mật với Người, sống thân thiết với Người trong t́nh con thảo.

Hành tŕnh đức tin của người Kitô hữu là một hành tŕnh đi về với Chúa. Sau bao nhiêu năm giữ đạo, tôi đă đi đến đâu? Tôi đă thực sự gặp được Chúa chưa? Tôi đă tiến đến gần Chúa chưa? Hay là tôi mới ở khởi điểm? Hăy đến, Chúa đang mời gọi ta. Chúa đang chờ đợi ta. Chúa đang mở rộng ṿng tay, mở rộng trái tim để đón ta đến sống trong t́nh yêu của Người. T́nh yêu ấy là hạnh phúc muôn đời của ta.

GỢI Ư CHIA SẺ

1- Có khi nào bạn nghe thấy tiếng Chúa mời gọi không?

2- Bạn đă quảng đại đáp lại tiếng Chúa mời gọi chưa?

3- Có bao giờ bạn cảm nghiệm được t́nh yêu của Chúa chưa?

 

28. Chúa kêu gọi con người hợp tác

(Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái)

"Hai môn đệ nghe Gioan nói, liền đi theo Đức Giêsu" (Ga 1,37)

I. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến

Hôm nay chúng ta bước vào mùa Thường niên. Các bài đọc trong Thánh lễ sẽ dần dần dẫn bước chúng ta đi theo Chúa. Bước đầu tiên là Chúa đến gặp gỡ chúng ta và kêu mời chúng ta đi theo Ngài.

Xin Chúa giúp chúng ta nghe được tiếng kêu gọi của Ngài và mau mắn đáp lại.

II. Gợi ư sám hối

Nhiều lần Chúa đă kêu gọi chúng ta, nhưng chúng ta không nghe thấy v́ chúng ta măi mê theo đuổi những chuyện vật chất, thế gian.

Chúa mời 2 môn đệ đầu tiên "Hăy đến mà xem". Chúa cũng kêu mời chúng ta như thế. Nhưng rất ít khi chúng ta chịu khó đến với Chúa và chiêm ngắm Chúa.

Chúa đă tạo dựng cho chúng ta một thân xác để chúng ta xử dụng mà tôn vinh Chúa. Nhưng rất nhiều lần chúng ta lại dùng thân xác ḿnh để làm chuyện tội lỗi.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (1 Sm 3,3b-10.19)

Chuyện xảy ra vào cuối thời kỳ các Thủ lănh (hay c̣n gọi là Quan án). Thủ lănh lúc đó là thầy cả Hêli. Ông này có hai đứa con trai. V́ không được Hêli giáo dục kỹ, cho nên hai tên này rất vô đạo. Chúng lợi dụng chức vụ của cha chúng để làm nhiều điều xấu xa tội lỗi. V́ thế Thiên Chúa quyết định chọn người khác thay thế Hêli. Người đó là Samuel, khi ấy c̣n là một cậu bé được trao phó cho Hêli dạy dỗ trong đền thờ Silô.

Một đêm câu bé Samuel đang ngủ trong đền thờ th́ Thiên Chúa gọi cậu 3 lần. Ban đầu cậu chưa biết đó là tiếng Chúa. Nhưng sau đó, được Hêli cho biết đó là tiếng Chúa th́ Samuel đă mau mắn đáp lại: "Lạy Chúa, xin hăy nói, v́ tôi tớ Chúa đang lắng nghe". Thế là Chúa gọi Samuel làm thủ lănh dân Do Thái thay cho thầy cả Hêli.

2. Đáp ca (Tv 39)

Đây là lời đáp ngoan ngoăn và quảng đại của kẻ được Chúa gọi: "Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ư Chúa".

3. Tin Mừng (Ga 1,35-42)

Gioan và Anrê là môn đệ của Gioan Tẩy giả. Một hôm, Gioan tẩy giả đang đứng với họ th́ thấy Đức Giêsu đi ngang qua. Gioan tẩy giả chỉ Ngài cho môn đệ thấy và giới thiệu "Đây là con chiên Thiên Chúa", kiểu nói có nghĩa Đức Giêsu là Đấng Messia. Nghe thế Gioan và Anrê liền đi theo Đức Giêsu. Sau đó Anrê lại giới thiệu Đức Giêsu cho anh ḿnh là Simon. Đức Giêsu lại kêu gọi Simon và c̣n đổi tên ông thành Phêrô.

4. Bài đọc II (1 Cr 6,13c-15a.17-20) (chủ đề phụ)

Những giáo huấn của Thánh Phaolô trong đoạn thư này vẫn c̣n là căn bản cho giáo lư ngày nay về giá trị thân xác con người:

- Thân xác chúng ta là chi thể của Đức Kitô,

- là đền thờ của Chúa Thánh Thần,

- đă được cứu chuộc bằng giá máu của Đức Kitô.

- V́ thế chúng ta không được dùng thân xác để phạm tội dâm ô, nhưng phải dùng nó để tôn vinh Thiên Chúa.

IV. Gợi ư giảng

1. Cảm nghiệm nhớ đời

a/ Cảm nghiệm của thánh Gioan tông đồ: Trong bài Tin mừng này, Thánh Gioan ghi lại một cảm nghiệm rất sâu sắc mà Ngài được trải qua và nhớ măi suốt đời, đến nỗi khi Ngài ngồi lại để viết đoạn Tin mừng này (khoảng năm 90), việc đó đă trôi qua khoảng 60, 70 năm mà Ngài vẫn nhớ rất rơ "lúc đó là khoảng giờ thứ 10". Cảm nghiệm ǵ mà sâu sắc như vậy? Thưa là cảm nghiệm được gặp Chúa và từ đó gắn bó với Chúa. Chính Thánh Gioan kể lại như sau:

Khi ấy Ngài đang là môn đệ của Gioan tẩy giả. Một hôm Đức Giêsu đi ngang qua, Gioan Tẩy giả liền chỉ cho các môn đệ ḿnh và nói: "Đấy là Con Chiên Thiên Chúa". Nghe vậy, Gioan và một môn đệ nữa liền đi theo Đức Giêsu. Đức Giêsu thấy họ đi theo sau lưng nên quay lại hỏi "Các anh t́m ǵ?" Họ không trả lời nhưng hỏi lại "Thưa Thầy, Thầy ở đâu?" Đức Giêsu cũng không trả lời nhưng mời họ "Hăy đến mà xem", rồi dẫn họ tới chỗ Ngài đang trọ. Họ đă đến và ở lại với Ngài suốt ngày hôm ấy. Hẳn là một ngày rất ấm cúng, cho nên sau đó họ đă trở thành môn đệ của Đức Giêsu luôn và 60, 70 năm sau Thánh Gioan c̣n nhớ kỹ lúc bắt đầu việc đó là "khoảng giờ thứ 10". Thật đúng như lời của một thi sĩ rằng:

"Cái phút ban đầu lưu luyến ấy,

Ngh́n năm hồ dễ đă mau quên".

Thánh Gioan muốn chia xẻ cho chúng ta một kinh nghiệm quư giá, đó là: nếu có lần nào chúng ta được thực sự gặp Đức Giêsu và lưu lại trong t́nh thân mật với Ngài th́ chúng ta sẽ không thể nào quên được Ngài, chúng ta sẽ măi măi gắn bó với Ngài.

b/ Cảm nghiệm của một số người khác:

- Văn hào Pháp Paul Claudel: một buổi chiều kia rảnh rỗi Paul Claudel rảo bước dạo chơi và t́nh cờ đi ngang một nhà thờ. Từ trong nhà thờ vang ra tiếng hát thánh ca thanh thoát, siêu phàm. Tiếng Thánh ca ấy đă thu hút ông buớc vào. Ông cảm xúc và ở lại cho đến hết buổi lễ. Và từ chiều hôm đó trở đi, Paul Claudel đă trở thành một tín hữu sốt sắng kiên tŕ trong Đức Tin. Ông viết nhiều quyển sách truyền bá Đức tin và ca tụng Thiên Chúa, ca tụng Đức Mẹ. Mọi sự bắt đầu vào một buổi chiều đáng nhớ.

- Thomas Merton: Thomas Merton mồ côi cha mẹ lúc 16 tuổi, năm 20 tuổi ông trở thành đảng viên cộng sản, ông hoàn toàn không tin ǵ về những sự siêu nhiên và sống một nếp sống chạy theo vật chất, nhục lạc. Một đêm kia khi đang ở trong một khách sạn, tự dưng ông nh́n lại đời ḿnh, thấy nó quá trống rỗng và cũng quá nhầy nhụa, đến nỗi ông chê chán chính ḿnh. Lúc đó chẳng biết làm ǵ khác, Thomas Merton quỳ gối xuống và cầu nguyện: "Lạy Chúa, từ trước tới nay tôi chẳng hề tin Chúa và ngay bây giờ tôi cũng chẳng biết có Chúa hay không. Nhưng nếu thật có Chúa th́ xin Ngài hăy giúp kéo tôi ra khỏi vũng bùn nhầy nhụa của đời tôi hiện tại". Đêm hôm đó lần đầu tiên Thomas Merton cầu nguyện. Ông đă gặp được Chúa và từ đó măi măi gắn bó với Chúa. Sau đó ông đi tu ḍng Trappe. Mọi sự bắt đầu từ một đêm gặp Chúa.

2. Chúa vẫn c̣n kêu gọi

Mặc dù Thiên Chúa là Đấng quyền phép vô cùng, muốn làm ǵ cũng được, nhưng Ngài không thích làm một ḿnh, mà luôn kêu mời con người chúng ta cùng làm với Ngài.

  Bắt đầu lịch sử cứu độ, Ngài đă kêu gọi Abraham.

  Khởi sự cuộc giải phóng dân do thái, Ngài kêu gọi Môsê.

  Mở màn thời Tân Ước, Ngài đă kêu gọi Maria.

  Khai mạc sứ vụ rao giảng Nước Trời, Ngài kêu gọi các môn đệ v.v.

Tóm lại, thời Cựu Ước vẫn thế, thời Tân Ước vẫn thế, và thời Hội Thánh cũng vẫn thế: Thiên Chúa luôn muốn kêu gọi con người hợp tác với Ngài trong công tŕnh cứu độ.

Thánh Augustinô đă suy gẫm rất nhiều về điều này, và Ngài đă viết: "Khi tạo dựng con, Chúa không cần hỏi ư con. Khi muốn thánh hóa con, Chúa cần sự hợp tác của con".

3. Chúa gọi, con người đứng lên

Tháng 3 năm 1998, Đức Cha Gioan Bta Phạm Minh Mẫn, Giám mục phó giáo phận Mỹ Tho, được Ṭa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục tổng giáo phận Saigon. Từ Lyon nước Pháp, nữ tu Marie Claude Faure, cựu Tổng quyền Ḍng Chúa Quan Pḥng Portieux, đă gởi đến ĐC Gioan Bta những lời khích lệ như sau:

Chúa cần một người cha cho dân Ngài

Ngài đă chọn một cụ già. Thế là Abraham đứng lên...

Ngài cần một người phát ngôn.

Ngài đă chọn một kẻ nhút nhát nói năng ngọng nghệu. Thế là Môsê đứng lên...

Ngài cần một lănh tụ dẫn dắt dân Ngài.

Ngài đă chọn kẻ nhỏ nhất, yếu nhất. Thế là Đavít đứng lên...

Ngài cần một tảng đá để đặt nền cho ṭa nhà.

Ngài đă chọn một người chối thầy. Thế là Phêrô đứng lên...

Ngài cần một gương mặt để nói cho người ta biết t́nh thương của Ngài.

Ngài đă chọn một cô điếm. Đó là Maria Mađalêna.

Ngài cần một nhân chứng để hô to sứ điệp của Ngài.

Ngài đă chọn một kẻ bách hại đạo. Đó là Phaolô thành Tarsô...

Ngài cần ai đó để tập họp dân Ngài và để Ngài đến với những kẻ khác.

Ngài đă chọn Đức Cha: dù Đức Cha run sợ, Đức Cha sẽ có thể không đứng lên sao?

4. "Hăy đến mà xem"

Đức Giêsu nói với Anrê và Gioan "Hăy đến mà xem". Ư của Đức Giêsu là muốn gọi họ làm môn đệ. Nhưng Ngài chưa nói rơ ư đó ra, Ngài chỉ mời họ đến và xem.

Phải đến, đến gần Đức Giêsu th́ mới hiểu Ngài rồi mới có thể làm môn đệ Ngài. Không thể tưởng tượng nổi kiểu môn đệ ǵ mà ở xa Thầy, không thường xuyên đến gần Thầy.

Rồi phải xem nữa. Môn đệ không chỉ nghe Thầy dạy, mà c̣n phải xem cách Thầy sống để sống theo. Không thể chấp nhận kiểu môn đệ mà không sống theo gương Thầy.

Câu Tin Mừng này nhắc tôi phải thường xuyên đến gần Đức Giêsu bằng những lúc cầu nguyện, và phải chăm chỉ xem Đức Giêsu bằng việc nguyện gẫm.

5. Giới thiệu Chúa cho anh em

Nhiều nhóm binh sĩ có vũ trang từ Syrie xâm chiếm đất Israel. Sau khi bắt dân Israel làm tù binh, chúng tàn phá thành phố và làng mạc. Chúng bắt những tù binh này làm việc như những đầy tớ trên đất Syrie. Trong số những người bị bắt, có một cô gái. Người ta không nói tên của cô ta.

Cô trở thành đầy tớ của viên sĩ quan nổi tiếng người Syrie, tên là Naaman. Vua Syrie rất hài ḷng về Naaman, v́ ông là một sĩ quan rất gan dạ. Rủi thay ông vừa mắc bệnh phong.

Một ngày kia, cô tớ gái nói với bà chủ: "Giá mà ông chủ Naaman được gặp tiên tri Elisa, đang sống ở Samaria, th́ ngài sẽ chữa cho ông chủ tôi khỏi bệnh" Nghe vậy, Naaman xin vua Syrie viết thư giới thiệu cho vua Israel. Ông cũng mang theo vải vóc, vàng bạc làm quà tặng.

Khi vua Israel đọc thư, ông rất lo, v́ ông nghĩ vua Syrie muốn gây chiến. Nhưng Elisa nghe biết, ông xin nhà vua để ḿnh chữa bệnh cho Naaman. Elisa không gặp Naaman, nhưng chỉ gởi một lá thư: "Hăy đi tắm trong ḍng sông Giodan 7 lần và ông sẽ được khỏi".

Naaman rất tự ái, ông không chịu tắm, nhưng đầy tớ khuyên ông cứ làm như lời nhà Tiên tri. Và quả nhiên, Naaman đă được chữa khỏi, da của ông trở nên mịn màng như da đứa trẻ. Naaman dâng cho Elisa quà tặng, nhưng người của Thiên Chúa không nhận, chỉ chúc cho ông "Hăy về b́nh an".

****

Chúng ta đừng bao giờ quên đứa tớ gái nhỏ bé ở đầu câu chuyện, em đă mau mắn giới thiệu tiên tri Elisa cho Naaman. Nếu cô bé giữ im lặng, th́ Naaman sẽ không bao giờ được chữa lành.

Hôm nay, Anrê cũng giới thiệu Phêrô em ḿnh cho Đức Giêsu: "Chúng tôi đă gặp Đấng Mê-si-a" (Ga.1,41). Rồi dẫn em ḿnh đến gặp Đức Giêsu.

Dường như mỗi lần Tin mừng Gioan đề cập đến Anrê th́ liền sau đó Anrê lại dẫn một ai đó đến với Đức Giêsu. Anrê đă trở nên nổi tiếng v́ ông đă dẫn cậu bé có "năm chiếc bánh và hai con cá" giới thiệu với Đức Giêsu. Để rồi sau khi cầu nguyện tạ ơn, Người đă biến bữa ăn trưa của cậu bé trở nên bữa ăn tập thể nuôi sống hơn năm ngàn người.

Lần thứ ba, chúng ta gặp lại Anrê lúc Đức Giêsu vào Giêrusalem lần cuối. Có mấy người Hy Lạp đến xin gặp Người. Cũng chính Anrê là người đă giới thiệu họ với Đức Giêsu. Và chắc hẳn đó là điều làm người hài ḷng, v́ sau đó Người phán: "Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi" (Ga.12,32).

Nếu Anrê không giới thiệu Phêrô với Đức Giêsu th́ có lẽ chẳng bao giờ có tông đồ Phêrô đá tảng của Hội thánh.

Nếu Anrê không giới thiệu cậu bé có "năm chiếc bánh và hai con cá", th́ có lẽ chẳng có phép lạ đầy ngoạn mục hứng khởi trong Thánh kinh.

Vậy bài học của Anrê là hăy giới thiệu cho mọi người đến với Đức Giêsu. Đó là con đường rao giảng từ người này đến người kia, từng người một. Đức Giêsu rất cần những người giàu t́nh bạn chân thành, những bước chân mang dấu vết của thân thiện, những lời nói luôn chứa đầy nhiệt huyết, những chứng nhân ra đi kể câu chuyện: "Chúng tôi đă gặp Đấng Mêsia".

***

Lạy Chúa, trên trái đất này, chúng con là đôi tay, là tiếng nói, là trái tim của Chúa. Xin cho chúng con trở nên những người nhiệt thành giới thiệu Đức Giêsu cho thế giới. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đă yêu")

6. Một cuộc gặp gỡ đầy ư nghĩa

Trong đời của chúng ta có rất nhiều cuộc gặp gỡ.

Có những cuộc gặp gỡ chẳng có ư nghĩa bao nhiêu và sớm rơi vào quên lăng. Đó là gặp gỡ hời hợt bề ngoài. Ta có thể nói chuyện với một người nào đó hàng giờ, có khi hàng năm nhưng vẫn thấy chưa thể cởi mở hết tấm ḷng. Ta có thể sống chung một tập thể với một người nào đó nhiều năm trời nhưng không bao giờ hiểu được người đó.

Có những cuộc gặp gỡ mà sau khi chia tay, chúng ta cảm thấy ḿnh c̣n nghèo nàn hơn trước.

Nhưng cũng có những cuộc gặp gỡ rất nhiều ư nghĩa, làm cho chúng ta giàu hơn, và có khi làm thay đổi hẳn cuộc đời chúng ta. Bạn có thể gặp một người nào đó chỉ một lần liền cảm thấy gắn bó với người đó. Với người đó, bạn có thể cởi mở hết tấm ḷng.

Khi t́nh bạn nẩy sinh giữa ta với một người nào đó, ta không cảm thấy rơ ràng đời ḿnh đă đổi thay, nhưng ta nhận thức được rằng đời ḿnh đă có một cái ǵ đó khác trước, ta có thể yêu thương và chăm sóc người đó một cách dễ dàng không cần cố gắng.

Đừng nghĩ rằng hễ cứ sống với nhau lâu dài và kiên tŕ chiều chuộng nhau th́ sẽ có t́nh yêu. Theo Kahlil Gibran, "T́nh yêu là con đẻ của một sự thu hút vô h́nh. Nếu sự thu hút này không nẩy sinh trong một giây phút th́ nó sẽ chẳng bao giờ nảy sinh cho dù trải qua nhiều năm và thậm chí nhiều thế hệ".

Có những cuộc gặp gỡ rất t́nh cờ nhưng lại khiến người ta gắn bó với nhau suốt đời. Nhiều cặp vợ chồng đă kể về lần đầu tiên họ gặp nhau với những chi tiết mà suốt đời họ không thể nào quên.

Những điều nói trên giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng của cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Đức Giêsu và 3 môn đệ sau này sẽ trở thành tông đồ của Ngài: Anrê, Gioan và Phêrô. Rơ ràng đây là một cuộc gặp gỡ tuyệt vời, bởi v́ rất nhiều năm sau, khi Gioan viết Tin Mừng, ông vẫn c̣n nhớ chính xác thời giờ lúc đó: "Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười" (nghĩa là khoảng 4 giờ chiều).

Vừa khi gặp Đức Giêsu, họ đă bị Ngài thu hút. Tuy nhiên Ngài không hối thúc, Ngài để họ thong thả muốn t́m hiểu Ngài bao lâu tuỳ ư: "Hăy đến mà xem". Họ đă đến và đă xem. Họ thấy Ngài thân thiện, niềm nở, nồng ấm. Họ biết ḿnh đă gặp được một con người tuyệt vời, và thế là một t́nh nghĩa gắn bó được phát sinh.

Khi ở với Ngài, họ cảm thấy hoàn toàn b́nh an thoải mái. Qua tiếp xúc với Ngài, họ c̣n khám phá chính bản thân họ. Thấy cung cách của Ngài, họ cảm mến và thấy rằng ḿnh cũng phải cố gắng sống theo cung cách ấy.

Có một khác biệt vô cùng to lớn giữa uy quyền và ảnh hưởng. Những người hành quyền trên chúng ta th́ muốn chế ngự chúng ta, biến chúng ta thành nô lệ họ hoặc một bản sao của họ. Trái lại, những người có ảnh hưởng trên chúng ta thực ra không có ư g̣ ép chúng ta, thay đổi chúng ta hay khuôn đúc chúng ta thành người giống như họ. Họ ban cho chúng ta một không gian mà trong đó chúng ta có thể t́m gặp chính ḿnh và sống theo cách thức của ḿnh. Đức Giêsu không hành quyền trên các môn đệ. Nhưng Ngài có ảnh hưởng sâu đậm trên họ. Cuộc gặp gỡ hôm ấy đă biến đổi hẳn cuộc đời của Gioan, Anrê và Phêrô.

Chúng ta không thể gặp gỡ Đức Giêsu trong xác thể, nhưng chúng ta có thể gặp gỡ Ngài một cách thiêng liêng trong đức tin như gặp một người Bạn, một người Anh và một Đấng cứu tinh.

Ngày nay Đức Giêsu vẫn c̣n đi qua và luôn sẵn sàng đón tiếp những ai t́m gặp Ngài. Tuy nhiên Ngài không bao giờ ép buộc ai phải sống như Ngài. Đối với những ai có thiện chí muốn biết Ngài nhiều hơn, Ngài nói như đă nói với Gioan và Anrê "Hăy đến mà xem". (Viết theo Flor McCarthy)

V. Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, Đức Giêsu mời gọi những người muốn theo Người "Hăy đến mà xem", để hiểu biết Người hơn mà chọn lựa thái độ đối với Người. Chúng ta hăy tin tưởng dâng lên Chúa những ư nguyện sau đây:

1. Xin cho mọi người trong Hội thánh biết năng t́m dịp gặp gỡ Đức Giêsu / để mỗi người càng hiểu biết và yêu mến Người hơn.

2. Xin cho mọi người trên thế giới chưa biết ǵ về Chúa Kitô / được có dịp gặp gỡ và hiểu biết Người là Đấng Cứu độ.

3. Xin cho mọi người đang gặp đau khổ và thử thách / biết t́m đến với Đức Giêsu Kitô để Người giải khổ và bồi dưỡng cho.

4. Xin cho anh chị em trong cộng đồng họ đạo chúng ta biết dùng lời nói và việc làm của ḿnh như dấu chỉ và dụng cụ để giới thiệu Đức Giêsu Kitô cho mọi người.

Chủ tế: Lạy Đức Giêsu Kitô, Chúa đă mời gọi chúng con "Hăy đến mà xem", xin cho mọi người chúng con biết lắng nghe và đáp lại tiếng Chúa mời gọi. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

VI. Trong Thánh lễ

- Trước kinh Lạy Cha: Trong tâm t́nh sẵn sàng của những kẻ được Chúa gọi "Lạy Chúa, này con xin đến, để thực thi ư Chúa", chúng ta hăy sốt sắng dâng lên Chúa lời kinh Lạy Cha.

- Sau kinh Lạy Cha: "Lạy Cha xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin giúp chúng con lắng nghe những tiếng gọi của Cha, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được b́nh an..."

VII. Giải tán

Ngày xưa Chúa đă kêu gọi Ông Samuel, Chúa đă kêu gọi các môn đệ đầu tiên là Gioan, Anrê và Simon... Ngày nay Chúa cũng kêu gọi chúng ta làm môn đệ Ngài để đem Tin Mừng của Ngài rao giảng cho thế giới. Chúng ta hăy đáp lại lời Ngài, suốt tuần lễ này nhiệt t́nh làm chứng cho Tin Mừng trong môi trường chúng ta sống và làm việc.

 

29. Đối với tôi, Đức Giêsu là ai?

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)

Thiên kư sự của thánh Gioan về ơn gọi của những môn đệ đầu tiên, đáng khâm phục v́ lời văn b́nh dị và gợi ư. Kư sự diễn tả tiến tŕnh cơ bản về mọi ơn gọi theo Đức Kitô: gặp gỡ, phát hiện, ưng thuận, thay đổi đời sống.

- Gặp gỡ. Hai môn đệ Anrê và Gioan gặp Đức Giêsu v́ đă được Gioan Tẩy giả lưu ư họ về người. Cũng thế, Simon – Phêrô gặp Chúa, v́ Anrê cho biết. Trong hai trường hợp này, ta thấy rằng một sự can thiệp của con người chính là con đường đưa người ta đến gặp Đức Giêsu. Nhưng tự nó sự can thiệp không có tính cách quyết định trong việc các môn đồ đi t́m Chúa. Điều khiến họ quyết định, chính là lời kêu gọi của Đức Giêsu: Hăy đến mà xem. Như vậy hai yếu tố đầu tiên trong tiến tŕnh đáp ứng ơn gọi là: một người dẫn những người khác đến nơi gặp gỡ- Thiên Chúa kêu gọi. Một câu hỏi được đặt ra: đó bao giờ chúng ta nghĩ rằng có thể chúng ta cũng dẫn một người nào đó đến gặp Đức Giêsu không? Cũng như Gioan Tẩy Giả, chúng ta biết rơ Đức Giêsu là ai. Giống như Anrê, chúng ta đă t́m thấy Đấng Cứu thế. Liệu chúng ta có lo lắng đến việc không nên khư khư giữ làm của riêng điều chúng ta t́m thấy? Để cho lời gọi của Chúa đến với một người trong anh em chúng ta, có lẽ Chúa nhờ chúng ta dẫn kẻ ấy đến gặp Người.

- Phát hiện. V́ vậy hai môn đệ đến và nh́n thấy nơi Chúa ở. Sau khi đă lưu lại với Chúa tới sáng hôm sau, họ tin chắc đă gặp Đấng Cứu Thế. Họ phát hiện Đức Giêsu là ai. Ta có thể nghĩ xa hơn: Hai môn đệ đă phát hiện Đức Giêsu là ai đối với họ. Thật vậy, không những họ nhận Đức Giêsu đúng là Đấng Cứu Thế, mà lại c̣n khám phá thấy một liên hệ đặc biệt do Đức Giêsu thiết lập giữa Người với họ, Chúa kêu gọi họ hăy trở nên môn đệ Người – đặc biệt Phêrô được Chúa gọi là “Đá”, tức là đá tảng trên đó Đức Giêsu sẽ thiết lập Giáo Hội Người. Tới đây, ta nhận định: Trong tiến tŕnh ơn gọi, con người lúc đối diện với Đức Kitô không những phát hiện Đức Kitô, trong bản thế là ai mà c̣n thấy rơ Đức Kitô là ai đối với người được gọi. Mỗi người chúng ta cũng có thể tự hỏi: Đối với tôi, Đức Giêsu là ai? Người gọi tôi làm việc ǵ? Ư muốn của Người ảnh hưởng trên tôi thế nào?

- Ưng thuận và thay đổi. Đoạn Phúc âm kể lại đầy đủ: Sau khi gặp Đức Giêsu và ở lại với Người tơí hôm sau, những môn đệ t́nh nguyện theo Chúa. Toàn bộ Phúc âm theo thánh Gioan cho biết một việc: Sự ưng thuận theo Chúa đă đếm lại đổi thay trong đời họ. Họ bỏ lại tất cả để theo Đức Kitô. Niềm tin vào Đức Kitô xoay đổi đời sống con người theo một hướng hoàn toàn khác với chiều hướng b́nh thường. Thậm chí, ở đây lại là theo Chúa trong điều kiện sinh hoạt khác với mọi người. Kitô hữu được kêu gọi hăy uốn sửa đời ḿnh cho phù hợp với khuôn mẫu Đức Kitô. Đó là điều làm thay đổi một đời người, thay đổi toàn diện.

Tóm lại, đoạn Phúc âm nói với chúng ta thế này:

1) Có những người đi t́m Đấng Cứu Thế.

2) Thấy họ t́m th́ Chúa đến với họ và kêu gọi họ.

3) Những người ấy đáp ứng lời Chuá bằng một câu đáp tích cực nó biến đổi đời họ. Ba câu hỏi chờ chúng ta: chúng ta có phải là những Kitô hữu trên đường t́m Chúa không? Chúng ta có nghe thấy những lời mời của Chúa không? Câu đáp của chúng ta, tức là nếp sống Kitô giaó thực tiễn, có biến đổi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành môn đệ không?

 

30. Lựa chọn theo Chúa

“Một trong hai người… đă đi theo Chúa Giêsu”.

Một thương gia người Mỹ, lúc chết đă làm chúc thư để lại gia tài đồ sộ cho các con. Người con gái của ông tên Grace lúc đó 23 tuổi, đang tu ở tu viện Đaminh Nữu Ước. Ông để cho cô này một triệu đô la, với điều kiện là cô phải rời tu viện và tuyên bố bỏ đạo Công giáo. Cuối cùng nữ tu Grace dứt khoát không rời tu viện, cũng không bỏ đạo. V́ thế cô đă mất cả phần tài sản to lớn đó.

Bước đường theo Chúa đôi lúc cũng đ̣i một sự lựa chọn như vậy. Tin Mừng hôm nay cho ta thấy những người đầu tiên xin làm môn đệ Chúa. Trong giai đoạn đầu cuộc sống công khai của Chúa, chỉ có Gioan Tẩy Giả được ban ơn đặc biệt nhận ra Chúa, ông giới thiệu Chúa: “Đây là Con Chiên Thiên Chúa”. Người Do Thái nghe danh hiệu này theo ư nghĩa thường gặp trong Kinh Thánh, là tôi tớ Thiên Chúa, một người tôi tớ âm thầm phục vụ ḷ sát sinh. Những người nghe thánh Gioan lúc đó là những người thiện chí, muốn cải thiện, họ quanh quẩn bên vị tiền hô để học hỏi sống chính trực. Họ biết Chúa Giêsu là người tốt, nhưng không phải một ông vua, không hứa hẹn giàu sang vinh hiển, tuy nhiên cũng có người quyết định đi theo Chúa.

Chúa Giêsu tiếp đón họ rất b́nh thường, chẳng có ǵ là niềm nở. Chúa hỏi họ như hỏi người lạ: “Các anh kiếm ǵ?” Chúa không phải một người quảng cáo hay tuyên truyền. Chúa bảo các ông: “Hăy đến mà xem”. Việc t́m hiểu rất cần thiết, chứng tỏ một tâm hồn khát khao chân lư, một tâm hồn có khả năng tiến bộ. Trong buổi đàm đạo đầu tiên này, có lẽ những người theo Chúa không được hứa hẹn ǵ, ngoài việc nhận ra Chúa là Đấng Mêsia, Đấng đă được hứa ban trong Kinh Thánh. Nhưng Kinh Thánh cũng đă nói trước Đấng Mêsia sẽ chịu bạc đăi, khổ đau. Họ chưa hiểu cặn kẽ số phận Đấng Cứu Thế, nhưng cũng lờ mờ thấy theo Chúa là phải chấp nhận khó khăn, hy sinh và có khi nguy hiểm nữa, nhưng họ đă quyết định theo Chúa.

Các ông đi theo Chúa trong niềm vui phấn khởi. Các ông vui không v́ đă t́m ra một món lợi, nhưng v́ từ lâu các ông vốn khát khao ơn cứu độ, các ông tha thiết chia sẻ tâm t́nh mong chờ Đấng Cứu Thế của Kinh Thánh, và bây giờ thấy ḷng mong đợi đó được đáp ứng. Các ông có được niềm vui lớn lao, và khi vui người ta thấy cần chia sẻ, niềm vui sẽ tràn đầy và truyền lan. Các ông đi nói lại với bạn bè, với bà con thân thuộc: Chúng tôi đă thấy Đấng Cứu Thế, cũng gọi là Đức Kitô. Các ông muốn người thân cũng vui với ḿnh, và muốn mọi người cùng đi theo Chúa như ḿnh.

Đầu tiên Gioan Tiền Hô đă gửi Anrê và Gioan đến với Chúa. Rồi Anrê và Gioan đi gọi Simon và Philipphê mời gọi Nathanael. Khởi đầu là do Chúa. Ơn gọi của Chúa như một niềm vui lan tràn từ người nọ tới người kia như nước chuyển qua những ống dẫn và ta có cảm tưởng như nếu không có người hướng dẫn th́ những người kế cận sẽ không nhận được ơn gọi của Chúa.

Xin Chúa giúp mỗi người chúng con biết lắng nghe lời Chúa gọi và luôn cố gắng truyền thông cho anh chị em, để mọi người sớm thành môn đệ Chúa.

 

31. Giới thiệu

Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, tôi muốn chia sẻ với anh em một bổn phận quan trọng, đó là: Bổn phận giới thiệu Đức Kitô cho những người chung quanh.

Thực vậy, Gioan Tiền Hô lúc bấy giờ xuất hiện bên bờ sông Giordan, ông rao giảng về tâm t́nh ăn năn và trao ban phép rửa sám hối. Mọi người đều kính trọng ông và coi ông như là một vị tiên tri. Thế nhưng ông đă thẳng thắn xác quyết với họ:

- Tôi chỉ là tiếng kêu trong sa mạc, hăy dọn đường Chúa đến.

Cũng chính ông đă long trọng giới thiệu Chúa Giêsu cho các môn đệ của ḿnh:

- Đây là Chiên Thiên Chúa.

Rồi ông đă khiêm nhường thú nhận:

- Tôi không xứng đáng cúi xuống cởi dây giày cho Ngài. Ngài cần phải lớn lên, c̣n tôi phải nhỏ đi.

Nghe lời giới thiệu ấy, Andrê và Gioan đă bước theo Chúa. Chúa Giêsu quay lại thấy hai ông liền phán:

- Các ngươi t́m chi.

Các ông thưa:

- Lạy Thầy, Thầy ở đâu?

Chúa Giêsu bảo:

- Hăy đến mà xem.

Hai ông đă đến cùng Chúa và ở lại với Ngài ngày hôm đó. Sau cuộc gặp gỡ này, Andrê đă đi t́m em ḿnh là Simon và nói với ông:

- Chúng tôi đă gặp Đấng Cứu Thế, tức là Đức Kitô.

Và chính Andrê đă dẫn Simon đến cùng Chúa.

Thoạt nh́n thấy Simon, Chúa Giêsu liền phán:

- Con là Simon, kể từ nay con sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là Đá.

Phúc âm c̣n kể tiếp, sau khi được Chúa gọi, Philipphê, đă đến gặp Nathanael và nói:

- Chúng tôi đă gặp Chúa Giêsu, con ông Giuse quê tại Nagiarét, là đấng Maisen mà các tiên tri đă nói tới trong lề luật.

Nhưng Nathanael đáp lại:

Ở Nagiarét nào có cái chi hay?

Philipphê liền nói:

- Hăy đến mà xem.

Cuối cùng Nathanael đă đi t́m gặp Chúa, đă tin nhận Chúa với lời tuyên xưng:

- Lạy Thầy, Thầy là Con Thiên Chúa, là vua Israel.

Và ông đă trở nên một trong số 12 tông đồ của Ngài.

Từ những chi tiết tôi vừa kể, chúng ta thấy: Gioan Tiền hô đă giới thiệu Chúa Giêsu cho các môn đệ của ông, trong đó có Gioan và Andrê. Rồi sau đó, Andrê cũng đă giới thiệu Chúa Giêsu cho em ḿnh là Phêrô. C̣n Philipphê, một khi đă đi theo Chúa, ông cũng đă giới thiệu Chúa cho Nathanael. C̣n chúng ta th́ sao?

Nhiều người trong chúng ta lầm tưởng rằng, bổn phận giới thiệu Đức Kitô, làm chứng về Ngài cũng như rao giảng Phúc âm là một bổn phận dành riêng cho các linh mục và tu sĩ, c̣n người giáo dân, th́ không cần phải vướng mắc chi vào chuyện đó.

Nghĩ như vậy là lầm. Đúng thế, với Bí tích Rửa tội, chúng ta trở nên người Kitô hữu. Và như chúng ta thường định nghĩa. Người Kitô hữu là người có Đức Kitô trong tâm hồn và mang Đức Kitô trong cuộc sống của ḿnh, bằng cách tuân giữ những điều Ngài truyền dạy và sống gắn bó mật thiết với Ngài qua những tâm t́nh cầu nguyện.

Thế nhưng có Chúa mà thôi chưa đủ, chúng ta c̣n có bổn phận phải giới thiệu Chúa, phải đem Chúa đến cho những người chung quanh. Chính v́ thế mà Chúa Giêsu đă phán:

- Các con là muối, là men, là ánh sáng. Các con hăy đi giảng dạy cho muôn dân…

Bởi đó, bằng một cuộc sống đạo đức, chúng ta thực sự có Chúa trong tâm hồn, đồng thời bằng những hành động bác ái yêu thương, chúng ta đem Chúa đến và giới thiệu Chúa cho những người chung quanh chúng ta.

 

32. Hoàn hảo

(Suy niệm của Lm. Nguyễn Thái)

“Họ xem chỗ Người ở, và ở lại với Người.” (Ga 1,35-42)

Ở đời ai cũng muốn đi t́m cái hơn. Muốn giàu có hơn, học hành giỏi hơn, có bằng cấp cao hơn. Lấy vợ gả chồng đôi khi cũng nhằm chỗ cao hơn mà tính. Thật không may, người ta chỉ đi t́m cái hơn về vật chất bằng mọi giá, ngay cả bằng những cách bất chính mà không kể ǵ đến những giá trị đạo đức tinh thần. Gần đây tôi đọc được bài thờ trào phúc “Cha và con và… sự đời” của Nguyễn Văn Thắm trên báo Tuổi Trẻ Cười nói lên cái tâm trạng đó của con người.

Cha:

Con ơi! Lấy vợ xem tông,

Lấy chồng chọn giống… mới mong sang giàu

Chồng mà chức trọng quyền cao,

Phong b́, quà biếu… cửa sau rộn ràng.

Vợ mà con cái nhà quan,

Ḿnh đi xin việc dễ dàng như chơi.

Con gái:

Thôi… con sợ lắm cha ơi!

Quan mà tham nhũng người đời dèm pha!

Cha:

Dèm pha mặc kệ dèm pha.

Có xe đời mới, có nhà tầng cao.

C̣n hơn cơm mắm, canh rau,

Nhà tranh, vách lá chui vào… chui ra!

Con trai:

Con quan phung phí xa hoa,

Thời trang đủ kiểu, cưới mà làm chi!

Tối ngày kẻ mắt, cắt mi

Môi son, má phấn… lấy ǵ nuôi con?

Cha:

Mày tưởng có bằng là ngon?

Thử đi xin việc, cúi ḷn… c̣m lưng!

Quà th́ tay xách, tay bưng

Tới lui mỏi gối, ṃn chân… hết tiền!

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Gioan 1:35 -42 , khi Chúa Giêsu chú ư thấy hai người môn đệ của Gioan đi theo Ngài, Ngài quay lại và hỏi họ, “Các ngươi đi t́m ǵ?” Họ trả lời: “Thưa thầy, thầy ở đâu?” Họ đang là môn đệ của Gioan, lại muốn bỏ Gioan mà đi theo Chúa Giêsu, để t́m “cái hơn”. Giống như chúng ta, họ cũng muốn sống một đời sống đầy đủ hơn. Nhưng khác chúng ta, chúng ta đi t́m kiếm đời sống vật chất cao hơn, c̣n Anrê và Philip lại đi t́m một đời sống tinh thần cao hơn. Họ muốn có một đời sống đích thực! Và chính Gioan, thầy của họ đă chỉ cho họ thấy khi Chúa đi ngang qua: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. (1:36).

Trong một lớp giáo lư tân ṭng, một thiếu nữ trẻ đang học đạo để lập gia đ́nh, chia sẻ tâm t́nh và sự lựa chọn của cô như sau. Trong cuộc đời cô, cô chưa bao giờ nghe biết hay được học hỏi điều ǵ về tôn giáo cả. Gia đ́nh cô rất ghét đạo Công giáo. Nhưng chàng và ngàng lại yêu thương nhau tha thiết. Khi chàng ngỏ ư muốn cưới nàng làm vợ với điều kiện cả hai phải có cùng một niềm tin tôn giáo, nàng chấp nhận ngay. Cô nói: “Tôi muốn có cái mà anh ấy có.” Cô chia sẻ rằng cô nhận thấy, đối với chàng đức tin là điều quan trọng nhất trong cuộc đời và chi phối toàn bộ cuộc đời chàng. Trong đức tin chàng có sự b́nh an và hạnh phúc. Đó là điều cô cũng đang đi t́m kiến th́ tại sao cô lại không chấp nhận được. Trong khi đó chàng không có nhiều tiền bạc, nhưng rất hài ḷng về cuộc sống của ḿnh, và chu toàn những bổn phận hằng ngày. Cuộc sống phản ảnh đức tin mà chàng và cô muốn là một phần của niềm tin đó.

Cô đă chọn lựa “cái hơn” của đức tin, của t́nh yêu và hạnh phúc nơi Đức Giêsu Kitô.

Đây cũng chính là điều mà Anrê và Philip muốn t́m khi họ bỏ Gioan Tẩy Giả để theo Chúa Giêsu. Họ không những chỉ muốn “cái hơn” mà thôi, nhưng c̣n là sự sung măn nhất, đầy đủ nhất và hoàn hảo nhất nơi Đức Giêsu Kitô.

Tất cả chúng ta được sinh ra với một ước muốn tự nhiên và ḷng khao khát đi t́m hạnh phúc và sự sung măn. Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta rằng cái mà chúng ta đang ước muốn, đang đi t́m, đang chờ mong, đang cố gắng đạt cho được bằng mọi cách, ở bất cứ thời đại nào hay thế hệ nào, chỉ t́m thấy đầy đủ nơi Chúa Giêsu Kitô (Pl 3:8). Khi xưa Chúa Giêsu đă mời hai môn đệ: “Hăy đến và xem”, Ngài cũng mời chúng ta không chỉ “đến và xem”, nhưng c̣n “Ở lại với Người” để trở nên môn đệ của người.

Ơn gọi làm môn đệ Chúa Giêsu là sự chọn lựa giữa việc đến gặp gỡ Chúa Giêsu và các lư do chính đáng khác trên đời (Mt 10:37). Gặp gỡ và gắn bó với Chúa Giêsu là mục đích tối hậu của người môn đệ (Ga 1:37). Sau đó những công việc mục vụ và rao truyền Tn Mừng sẽ là thành quả của việc gặp gỡ này.

Theo William Barclay, Anrê là một nhân vật luôn luôn giới thiệu người khác đến với Chúa Geiesu. Ba lần Anrê được nhắc đến trong Phúc âm của Gioan với vài tṛ này: đưa Phêrô đến với Chúa Giêsu (1:42); đứa bé trai với năm chiếc bánh và hai con cá đến cho Chúa Giêsu (6:8-9); đưa mấy người Hy Lạp đến gặp Chúa Giêsu (12:22). Anrê là con người với trái tim truyền giáo.

Và sau này cả Philip nữa, sau khi đă gặp Chúa Giêsu rồi, cũng đi mời Nathanael đến với Ngài (1:45-47). Giới thiệu Chúa Giêsu đi vào cuộc đời của tha nhân là thành quả của sự kết hiệp mật thiết và cá nhân giữa ta với Chúa.

Vào thế kỷ thứ XI, Vua Henry III của vương quốc Bavaria, nay là một tiểu bang thuộc vùng Tây Nam nước Đức, đă chán ngán làm vua và trở nên quá mệt mỏi trong việc điều hành đất nước nên ngài ao ước được sống ẩn dật trong một tu viện. Nhà Vua đi tới một tu viện gần đó để xin ư kiến của vị tu viện trưởng. Cha tu viện trưởng nhận ra ngài là vua đă quen với việc điều hành và ra những chỉ thị nên nói với vua rằng: “Nếu vào sống trong tu viện như một tu sĩ th́ việc trước hết là vua phải vâng lời cha bề trên tu viện trưởng và phải làm theo lệnh truyền của ngài.” Vua Henry III nhận thấy điều đó quá dễ dàng, không thành vấn đề. Vua sẵn ḷng vâng lời cha bề trong trong bất cứ chuyện ǵ. Cha bề trên mới nói: “Vậy th́ tốt lắm, tôi sẽ chỉ cho nhà vua điều phải làm. Nhà vua hăy trở về hoàng cung và phục vụ đất nước trong ngôi vị mà Thiên Chúa đă định đặt cho ngài.”

Theo ư Vua Henry III, “cái hơn” là vào tu viện sống đời cầu nguyện và chiêm niệm như một tu sĩ. Nhưng cha bề trên đă giúp cho ngài nhận ra không phải chỉ là “cái hơn” mà là cái hoàn hảo nhất, sung măn nhất. Đó là gặp gỡ Đức Kitô ngay trong cuộc sống của ḿnh, rồi giới thiệu Chúa đến với tha nhân qua việc chu toàn bổn phận mà Thiên Chúa đă xếp đặt cho ngài: xây dựng một xă hôi công bằng, an b́nh, mang lại ích lợi cho toàn dân.

Vua Henry III đă trở về với công việc bổn phận để gặp gỡ Chúa Giêsu và trở nên người môn đệ chân chính của ngài (Mt 7:24).

 

33. Được kêu gọi để ở lại

Khi yêu thương ai, chúng ta thường muốn người ấy được ở lại với ḿnh. Trong trường hợp hai người ngang hàng với nhau th́ được ở lại trong nhau th́ cả hai đều được lợi. C̣n nếu như một người lớn muốn người cho người nhỏ được ở lại th́ lợi ích dường như luôn thuộc về người nhỏ. Bởi v́, đó là t́nh thương được thể hiện qua sự lo lắng, quan tâm và chăm sóc.

 Hôm nay, qua đoạn tin mừng Chúa Giêsu cũng muốn các môn đệ (Gioan và Anrê) được ở lại với Người. Chúa Giêsu thấy các ông đi theo ḿnh th́ đă hỏi: "Các anh t́m ǵ thế? Họ đáp: Thưa Ráp-bi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu? Người bảo họ: Đến mà xem". (Ga 1, 38b - 39). Nghe lời mời gọi của Chúa Giêsu: "Họ đă đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy" (Ga 1, 39b)

Chúng ta không biết hai ông đă được xem nơi ở của Chúa Giêsu như thế nào. Tuy nhiên, như có lần Chúa Giêsu đă nói: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu." (Lc 9, 57). Do đó, chắc chắn nơi ở của Chúa Giêsu không phải là một cung điện nguy nga tráng lệ.

Dầu vậy, quan trọng hơn là các ông được lĩnh hội một năng lực hết sức quư báu từ Chúa Giêsu. Năng lực ấy chính là t́nh thương mà Chúa Giêsu dành cho các ông. Một t́nh thương có thể nói không ai ở trần gian có thể đem đến cho các ông. Cảm nhận được điều đó nên ông Anrê đă không chỉ giữ cho riêng ḿnh mà ông đă vội vàng dẫn em ḿnh là Simon Phêrô đến gặp Chúa Giêsu (Ga 1, 42)

Được ở lại với Chúa và trong Chúa th́ không c̣n hạnh phúc nào bằng. Khi ở lại trong Chúa chúng ta sẽ được Người thông ban những ân sủng dồi dào và cần thiết. Và nhất là chúng ta sẽ được t́nh thương của Người ấp ủ và chăm sóc. Chỉ khi được như thế chúng ta mới có thể có đầy đủ năng lực để sống. Bởi lẽ, Chúa Giêsu đă nói: "Ta đến để cho chúng được sống và sống dồi dào" (Ga 10, 10).

Được biết những tu sĩ thuộc ḍng của Mẹ Têrêsa Calcutta mỗi ngày phải quỳ trước Thánh Thể Chúa ít nhất là một giờ đồng hồ. Mặc dù ḍng của Mẹ là ḍng hoạt động chứ không phải là ḍng chiêm niệm. Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng thế. Cho dù bận trăm công ngh́n việc nhưng ngài không bao giờ bỏ những giờ chầu bên Thánh Thể Chúa.

Phần chúng ta, những giây phút đặc biệt được ở lại trong Chúa đó là những lúc chúng ta đi dâng Thánh lễ và cử hành các giờ đạo đức (Kinh sáng và Kinh tối). Chúng ta thường nghĩ rằng đó là những việc làm bổn phận của ḿnh với Chúa. Thế nhưng chúng ta hăy nhớ rằng đó là những giây phút chúng ta đang đáp lại lời mời gọi của Chúa để được ở lại trong Người. Chắc chắn Chúa sẽ thông ban cho chúng ta được nhiều năng lực cần thiết và quư giá hơn những ǵ chúng ta mong đợi.

 

34. Giới thiệu – Lm Giacôbê Phạm Văn Phượng

Một thủ tục đầu tiên, hay đúng hơn, một nghi thức đầu tiên mà trong bất cứ buổi hội họp hay một bữa tiệc lớn nhỏ nào người ta vẫn thường làm, đó là giới thiệu những người hiện diện, nhất là giới thiệu những chức sắc, những nhân vật quan trọng. Trong cuộc sống xă giao hằng ngày cũng vậy, mỗi khi gặp những người mới lạ, người ta cũng thường giới thiệu nhau. Như vậy, giới thiệu nhau là một điều rất b́nh thường, và tất cả chúng ta đều biết mục đích của sự giới thiệu là để biết nhau.

Trong bài Tin Mừng chúng ta thấy Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Giêsu cho các môn đệ của ông, ông nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Lời giới thiệu này chứng tỏ Gioan biết Chúa Giêsu là ai và cũng chứng tỏ ông ư thức sứ mệnh tiền hô của ḿnh, ông đă chỉ lối cho hai môn đệ đến gặp Chúa Giêsu. Đây là lời giới thiệu trung thực, đầy can đảm và có mănh lực thôi thúc hai môn đệ đi theo Chúa.

Hai môn đệ ấy, một người là Anrê, c̣n người kia, tuy Tin Mừng không nói đích danh, nhưng chúng ta biết đó là Gioan, tác giả bài Tin Mừng này, bởi v́ trong sách Tin Mừng của ông, ông thường giấu tên ḿnh. Họ đến nói chuyện với Chúa, chúng ta không biết Chúa nói ǵ với hai ông và hai ông nói ǵ với Chúa, chỉ biết rằng sau khi tiếp xúc với Chúa ra về, hai ông đă biểu lộ ḷng tin: tin nhận Chúa là Đấng Mêsia, Đấng Thiên Sai, Đấng Cứu Thế, và ḷng đầy phấn khởi, quyết dấn thân theo Chúa không điều kiện.

Ngày hôm sau, ông Anrê lại đưa em ḿnh là Simon đến gặp Chúa. Vừa gặp Simon, Chúa đổi ngay tên cho ông là Phêrô. Trong truyền thống của Do thái, việc đổi tên như thế bao hàm một ư nghĩa quan trọng và là một cách minh chứng: người đổi tên là người có uy quyền, và người được đổi tên sẽ được trao cho một nhiệm vụ quan trọng nào đó. Ở đây, Chúa Giêsu đổi tên cho Simon, minh chứng uy quyền của Chúa, và Ngài sẽ trao cho ông một sứ mệnh mới, một nhiệm vụ đặc biệt. Simon được đổi tên là Phêrô, nghĩa là Đá Tảng, tức là ông sẽ làm nền móng của Giáo Hội, ông sẽ là người lănh đạo tối cao của Giáo Hội sau này.

Như vậy, Gioan Tẩy Giả biết Chúa Giêsu, nên ông đă giới thiệu cho các môn đệ và hai môn đệ đă tin theo Chúa. Liền sau đó, Anrê đă giới thiệu cho em ḿnh, và Phêrô cũng tin theo Chúa. Rồi cả ba môn đệ cũng như tất cả các môn đệ khác đă biết Chúa, sống với Chúa và vâng lệnh truyền của Chúa đi giới thiệu Chúa cho muôn dân: “Anh em hăy đi khắp nơi rao giảng cho mọi người”. Các ông đă hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ này.

Đối với chúng ta hôm nay, một khi đă chịu phép rửa tội và gia nhập vào Giáo Hội, chúng ta đều có nhiệm vụ giới thiệu Chúa cho anh em. Chúng ta có thực hiện không và thực hiện như thế nào? Mục đích của giới thiệu là để biết nhau, muốn giới thiệu về một người th́ phải biết về người đó, tùy theo mối liên hệ giữa hai người mà mức độ biết về nhau nhiều hay ít, nếu không biết rơ về người nào th́ có thể giới thiệu sai về người ấy, chẳng ai muốn người khác giới thiệu sai về ḿnh, giới thiệu sai là xúc phạm đến người đó và cũng mắc lỗi với người ḿnh giới thiệu. V́ thế, muốn giới thiệu ai th́ phải biết rơ về người ấy, cũng vậy, để giới thiệu Chúa chúng ta phải biết Chúa. Chúng ta có biết Chúa không?

Có lẽ nhiều người tín hữu có mặc cảm v́ thấy ḿnh non yếu về đức tin, về giáo lư, về Kinh Thánh, h́nh như chúng ta chỉ đủ đức tin để giữ đạo cho ḿnh mà không truyền thụ được cho ai, v́ vốn liếng kiến thức về giáo lư, về Kinh Thánh quá ít. Chúng ta thử nh́n lại bản thân ḿnh mà coi: hồi nhỏ, chúng ta học giáo lư chỉ là những câu hỏi thưa, học thuộc để được xưng tội rước lễ lần đầu, Thêm sức hoặc lănh bí tích hôn phối, từ đó trở đi, không c̣n ai lo phải học, phải thi giáo lư nữa. Nhiều người cũng chỉ bằng ḷng với vốn liếng giáo lư đó, chứ không c̣n học hỏi hay đào sâu thêm chi nữa, cũng chẳng ai bắt buộc chúng ta học nữa, trong khi đó ở những bộ môn khác luôn luôn được học hỏi, được bồi dưỡng thêm.

Nói như vậy không phải để chúng ta bi quan, mặc cảm, nhưng để chúng ta cố gắng thêm, dù chúng ta không biết về Chúa cho đủ, nhưng Chúa cũng sai chúng ta đi giới thiệu Chúa cho mọi người. Cách giới thiệu Chúa Giêsu cho người khác tốt nhất, cụ thể nhất, hữu hiệu nhất là bằng chính đời sống tốt đẹp của chúng ta, đó chính là một tấm gương trước mặt mọi người và có giá trị hơn nhiều bài giảng, “Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo” là thế.

Xin hăy nhớ: không phải ai cũng có thể làm việc lớn, nhưng tất cả mọi người có thể làm được điều thiện, mà điều thiện th́ luôn có trong đời thường, và việc thường th́ luôn có bên cạnh. Không phải ai cũng là thánh ở đời này, nhưng tất cả đều có thể là một người lành, người tốt, v́ thế, với việc thường ngày, dù có nhạt nhẽo, nhàm chán với đắng cay, chúng ta cũng hăy góp phần nhỏ bé của ḿnh để xây dựng Giáo Hội và thế giới, chúng ta hăy cố gắng làm ǵ cho đời chứ không thu góp những ǵ của đời cho ḿnh, v́ một cuộc đời chỉ biết có ḿnh là cuộc đời đă chết trước khi tắt thở.

 

35. Cuộc gặp gỡ

Trong suốt quá tŕnh của đời sống, chúng ta có nhiều cuộc gặp gỡ với mọi người. Hầu hết những cuộc gặp gỡ này đều ít có ư nghĩa, và chẳng bao lâu, bị quên lăng.

Mỗi ngày, bạn có thể gặp gỡ một số người, nhưng không bao giờ gần gũi với họ, mà chỉ ở bề ngoài mà thôi. Bạn có thể nói chuyện với một số người hàng giờ, thậm chí hàng năm, mà vẫn không hề cảm thấy bạn đă bộc lộ con người đích thực của bạn cho họ. Bạn có thể sống nhiều năm trong cùng một cộng đoàn với người khác, mà vẫn không bao giờ biết về họ, hoặc nói chuyện về những điều sâu xa hơn với họ. Một số quan hệ với người khác mà thậm chí c̣n đưa chúng ta quay trở lại với chính ḿnh, trở nên nghèo nàn hơn, sau khi chúng ta ra đi. Đây là một trong những điều đáng buồn nhất trong cuộc sống.

Nhưng có những cuộc gặp gỡ khác mang ư nghĩa vĩ đại; chúng phong phú hóa, và đôi khi, c̣n dứt khoát làm thay đổi cuộc sống của chúng ta nữa. Có thể bạn chỉ vừa mới gặp gỡ một người nào đó, và ngay tức khắc, một mối quan hệ liền được h́nh thành. Bạn có thể bộc lộ bản thân ḿnh, một cách rơ ràng và thực sự. Đây là một trong những điều thú vị và thỏa măn nhất trong cuộc sống.

Khi một t́nh bạn được khai sinh, th́ không có một sự thay đổi nào rơ rệt trong cuộc sống con người – mà chỉ là một sự nhận thức rằng cuộc sống của người đó trở nên khác hẳn, khả năng yêu thương và chăm sóc của họ đă được mở rộng một cách lạ lùng, mà không hề có bất cứ sự nỗ lực nào từ phía người đó.

Thật sai lầm khi nghĩ rằng t́nh yêu đến từ t́nh bạn lâu dài và sự kiên nhẫn theo đuổi. Theo Kahlil Gibran “T́nh yêu là kết quả của sự thu hút về mặt tinh thần, trừ khi sự thu hút này được tạo ra trong một chốc lát, theo năm tháng, hoặc thậm chí qua nhiều đời, người ta vẫn sẽ không tạo ra được nó”. Nhiều cuộc gặp gỡ có ư nghĩa t́nh cờ xảy ra. Một số người sẽ nói điều này với bạn, về cách họ gặp gỡ người bạn đời của ḿnh: họ không bao giờ quên được những sự kiện của cuộc gặp gỡ đầu tiên đó. Một khi chúng ta đă yêu mến hoặc căm ghét một người nào, th́ hầu như chúng ta nhớ được từng chi tiết của cuộc gặp gỡ đầu tiên đó. Điều này giúp chúng ta hiểu biết được tầm quan trọng của cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Đức Giêsu và ba môn đệ sau này trở thành các tông đồ của Người – Phêrô, Anrê và Gioan. Rơ ràng họ đă có một cuộc gặp gỡ tuyệt vời. Nhiều năm sau, khi Gioan viết sách Tin Mừng, ông vẫn có thể nhớ được chính xác về ngày giờ diễn ra cuộc gặp gỡ đó – đó là vào khoảng giờ thứ 10 (4 giờ chiều).

Khi được gặp Đức Giêsu, Người đă lôi cuốn họ ngay. Người dành cho họ nhiều thời gian theo ḷng họ mong muốn. Họ nhận thấy Người nồng nàn, thân thiện, hiếu khách. Họ biết rằng họ được gặp gỡ một nhân vật quan trọng, và một t́nh bạn hiếm có được khai sinh. Họ cảm thấy hoàn toàn được b́nh an nhờ sự hiện diện của Người. Thông qua cuộc tiếp xúc với Người, họ bắt đầu khám phá ra chính con người của họ. Nhờ tính cách của Người, họ có được tầm nh́n về con người mà họ có thể trở thành.

Có một sự khác biệt lớn lao giữa quyền lực về ảnh hưởng. Những người nắm quyền lực trên chúng ta áp bức chúng ta, cố gắng biến chúng ta thành nô lệ, hoặc bản sao của con người họ. Những người gây ảnh hưởng trên chúng ta th́ lại không hề cố gắng xoay chuyển, thay đổi, hoặc đúc khuôn chúng ta. Họ tạo ra cho chúng ta một khoảng không gian, trong đó chúng ta có thể t́m thấy bản thân ḿnh, và đường lối của riêng ḿnh. Đức Giêsu không áp đặt quyền lực trên các môn đệ của Người. Nhưng Người gây ra một ảnh hưởng sâu xa trên họ. Cuộc gặp gỡ với Người măi măi thay đổi cuộc sống của Phêrô, Anrê và Gioan.

Chúng ta không thể gặp gỡ Đức Giêsu bằng xương thịt. Nhưng chúng ta có thể gặp gỡ Người một cách thiêng liêng trong ḷng tin, với tư cách là một Người bạn, một Người anh Cả, và một Đấng Cứu độ. Không nhận biết Đức Giêsu là chưa khám phá được điều mà đạo Công giáo hướng tới. Đạo Công giáo đưa đến một mối quan hệ nồng ấm, gần gũi với Đức Giêsu.

Đức Giêsu măi măi ra đi rồi. Nhưng Người vẫn luôn gần gũi với những ai chân thành t́m kiếm Người. Người không bao giờ áp đặt bản thân Người trên bất cứ ai. Đối với kẻ nào thích được hiểu biết nhiều hơn nữa, th́ Người nói câu mà Người đă nói với Gioan và Anrê “Hăy đến mà xem”.

Tất nhiên đó không phải là một cuộc gặp gỡ một lần cho tất cả, nhưng chúng ta đang nói về một mối quan hệ đang phát triển với Người.

 

36. Các môn đệ đầu tiên - JKN

Câu hỏi gợi ư:

1. Bạn có thể biết và tin Đức Giêsu mà không do một người nào khác giới thiệu cho bạn không? Nếu thế, bạn có cảm thấy bổn phận phải tiếp tục giới thiệu Đức Giêsu cho những người khác nữa không?

2. Những người hiện nay mang danh là biết và tin Ngài, thật ra có biết và tin Ngài đích thực không? Những người này có cần được giới thiệu lại về Đức Giêsu để họ biết và tin Ngài đích thực hơn, nghĩa là niềm tin ấy phải được thể hiện bằng sự dấn thân cụ thể trong đời sống không?

3. Khi giới thiệu, rao giảng về Đức Giêsu, bạn có bị cám dỗ t́m chính ḿnh, lợi ích cho ḿnh - thay v́ t́m Ngài và lợi ích cho Ngài - trong công việc thánh thiện ấy không? Bạn có dễ dàng từ bỏ những ưu đăi, đặc quyền đặc lợi đi kèm với công việc tông đồ không?

Suy tư gợi ư:

1. Cần giới thiệu Đức Giêsu cho người chưa biết Ngài

Đức Giêsu nói: “Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; c̣n ai không tin, th́ sẽ bị kết án” (Mc 16,16). Sự cần thiết và quan trọng của Đức tin được Kinh Thánh nói đến rất nhiều (xem thêm: Lc 8,12b; Cv 16,31; Rm 10,9; Ep 2,8; 1Pr 1,9; v.v...). Nhưng tin không phải chuyện ai cũng làm được: ta thấy hiện nay trên thế giới, cứ 10 người th́ mới có 3 người mang danh là tin Đức Giêsu. Và rất có thể trong 3 người - hay hơn nữa - mang danh là tin ấy mới có một người thật sự tin vào Ngài (v́ tin thật sự là tin phải được chứng tỏ bằng việc làm, bằng đời sống và sự dấn thân thật sự). Việc có đức tin tùy thuộc nhiều điều kiện: một cách khách quan vào cơ hội hay “nhân duyên” (nói theo từ nhà Phật), và một cách chủ quan vào tâm trạng của mỗi người. Về điều này thánh Phaolô cũng viết: “Kinh Thánh nói: Tất cả những ai kêu cầu danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát. Thế nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng” (Rm 10,11.13-15a).

Để người ta tin vào Đức Giêsu, cần có người giới thiệu Ngài cho họ. Người giới thiệu hết sức cần thiết. Trong thương trường, để bán được hàng hóa, người ta phải t́m mọi cách, bằng quảng cáo, tiếp thị, để giới thiệu cho mọi người biết trên thị trường có loại hàng hóa ấy, chất lượng nó ra sao, nó cần thiết cho đời sống thế nào. Thời nay, hàng hóa mà không nhờ quảng cáo và tiếp thị th́ dễ có nguy cơ bị ế. Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy Gioan Tẩy giả đă giới thiệu Đức Giêsu cho hai môn đệ của ḿnh để họ theo Ngài: hai môn đệ này một người là Anrê, và người kia chắc hẳn là Gioan (nhỏ), tác giả bài Tin Mừng này (tác giả thường không muốn nói đến bản thân ḿnh). Nhờ Gioan Tẩy giả giới thiệu, hai môn đệ của ông đă trở thành môn đệ của Đức Giêsu và dấn thân trọn vẹn cho Ngài suốt cuộc đời.

2. Cần giới thiệu lại Đức Giêsu cho người đă biết và tin Ngài

Hiện nay, chung quanh ta có biết bao người không tin thật sự vào Đức Giêsu, vào chân lư cứu độ. Trong số đó, có biết bao người mang danh là tin Ngài, nhưng thật sự chỉ là tin trên danh nghĩa, v́ trong thực tế họ chỉ biết về Ngài rất mơ hồ, sự biết ấy không đủ sức mạnh để thúc đẩy họ sống và hành động như sự hiểu biết ấy đ̣i hỏi. Ngay trong số chúng ta, những người tự xưng là Kitô hữu, chúng ta có thể tuyên xưng rất mạnh niềm tin của ḿnh, thậm chí kết án những ai tin khác với ḿnh, nhưng giữa niềm tin ấy và cuộc sống của ta là cả một sự xa cách. Tin trên lư thuyết và sống trong thực tế không trùng hợp với nhau, lư và sự, chủ trương và hành động, nói và làm khác xa nhau. Điều đó chứng tỏ chúng ta chưa thật sự tin.

Thánh Giacôbê nói: “Một thân xác không hơi thở là một xác chết, cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2,26; x.2,17). Nhiều khi chúng ta tưởng ḿnh có đức tin, nhưng đức tin ấy xét cho nghiêm túc lại là thứ “đức tin chết”, những đức tin giả hiệu, là “hàng giả”, loại rẻ tiền (v́ được mua với giá rẻ). Chính v́ thế, Giáo Hội ngày nay mới nói đến vấn đề “phúc âm hóa mới”, hay “tái phúc âm hóa”, nghĩa là giới thiệu lại Đức Giêsu cho những người đă biết Ngài, đă mang danh là tin Ngài, để họ tin Ngài một cách đích thực hơn.

3. Tỷ lệ người tin thật sự trong Giáo Hội và thế giới hiện nay

Cứ nh́n vào thực trạng của Giáo Hội, của xă hội và thế giới hiện nay, ta có thể thấy được tỷ lệ người tin thật sự vào Đức Giêsu là bao nhiêu. Người thật sự tin tất nhiên phải trở thành “muối” (x. Mt 5,13; Mc 9,49; Lc 14,34), thành “men” (Mt 13,33; Lc 13,21) chất lượng. Nếu thức ăn được ướp muối mà vẫn bị hư, bột được trộn men mà không dậy lên được, là v́: hoặc muối hay men quá ít, hoặc muối hay men đă bị mất chất lượng. V́ nếu men tốt th́ chỉ cần “một chút men (là đủ) làm cả khối bột dậy men” (Gl 5,9).

Tệ hơn nữa, nếu men bị biến chất thành men thối th́ thật là nguy hiểm cho đống bột. Đức Giêsu đă cảnh cáo chúng ta chuyện này: “Anh em phải coi chừng, phải đề pḥng men Pharisêu và men Hêrôđê” (Mc 8,15; x. Mt 16,6). Ngài giải thích: “Men Pharisêu tức là thói đạo đức giả” (Lc 12,1b), là thói giữ đạo một cách h́nh thức, với những nghi lễ trang trọng bề ngoài, mục đích để được ca tụng, được khen, nhưng trong tâm hồn th́ chẳng có t́nh thương, chẳng muốn hy sinh chịu thiệt cho ai (x. Mt 23). C̣n “men Hêrôđê” có thể là thói ham thích quyền bính, thích ép buộc người khác phải làm theo ư ḿnh, đồng thời sẵn sàng làm tất cả mọi sự - kể cả những chuyện bỉ ổi, đê hèn, tội lỗi - để đạt được hay duy tŕ quyền bính của ḿnh (x. Mt 2,16). Hai loại “men” này thực chất th́ như nhau, nhưng một đằng áp dụng trong tôn giáo, một đằng áp dụng ở ngoài đời. Chính những loại “men” này đă làm Giáo Hội, xă hội và thế giới thoái hóa về đạo đức và tâm linh.

Vậy, ai sẽ là người làm công việc “tái phúc âm hóa” này, nghĩa là làm cho muối mặn trở lại, men nồng trở lại? Bạn nhận định thế nào về thực trạng của Giáo Hội, xă hội và thế giới hiện nay? Bạn có ư thức được nhu cầu khẩn thiết phải tái phúc âm hóa trong Giáo Hội không? Bạn có nghe thấy tiếng Chúa kêu gọi bạn làm công việc này không? Nếu nghe thấy, bạn có đáp lại tiếng Chúa như Sa-mu-en trong bài đọc I không? Bạn có sẵn sàng đi theo và rủ người khác theo Ngài như hai môn đệ của Gioan Tẩy giả trong bài Tin Mừng không? Bạn thử lắng nghe Chúa nói trong ḷng ḿnh và nghe cả ḷng ḿnh nói nữa!

4. Dành cho Chúa tất cả, đừng giữ lại ǵ cho ḿnh

Thái độ của Gioan Tẩy giả cũng là một gương mẫu và là một bài học tốt cho chúng ta. Anrê và Gioan (nhỏ) đều đang là môn đệ của Gioan Tẩy giả. Chắc chắn ông đă từng nói với các môn đệ ḿnh cũng như đă từng nói với dân chúng: “Đấng đến sau tôi th́ quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Tôi làm phép rửa trong nước để giục ḷng sám hối, c̣n Người sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần và lửa” (Mt 3,11). Khi nói những lời ấy, Gioan Tẩy giả xác định ḿnh không phải là Đấng ấy, đồng thời muốn giới thiệu Đấng ấy để mọi người - kể cả các môn đệ của ông - tin và hướng về Đấng ấy. Chính v́ thế, khi Gioan Tẩy giả “thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa”“ th́ có “hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giêsu”. Khi hai môn đệ rất ưu tú của ḿnh bỏ ḿnh để làm môn đệ Đức Giêsu, chắc chắn Gioan Tẩy giả cảm thấy một niềm vui buồn lẫn lộn. Vui v́ thấy Đức Giêsu có được hai môn đệ, vui v́ hai môn đệ của ḿnh có được một người thầy cao cả và xứng đáng hơn ḿnh. Nhưng cũng buồn v́ ḿnh đă bị mất mát một cái ǵ rất thân quí. Giữa vui và buồn ấy, đối với một người thật sự quan tâm tới công việc chung, th́ cái vui ấy sẽ lấn át cái buồn, và nỗi buồn chỉ là thoáng qua.

Khi ta giới thiệu Đức Giêsu cho mọi người, rao giảng, dạy dỗ về Ngài, chắc chắn v́ sự giới thiệu, dạy dỗ ấy, nhiều người sẽ nhận ta là thầy, và theo làm môn đệ ta. Ngoài ra, ta c̣n được biết bao người kính trọng, nể phục, khen ngợi, đồng thời dành cho ta nhiều ưu tiên, đặc quyền đặc lợi nào đó. Ban đầu có thể ta không hề nhắm tới những điều phụ thuộc này, nhưng khi đă hưởng được những ưu đăi hay đặc quyền đặc lợi ấy, ḷng ta bắt đầu cảm thấy gắn bó với chúng, đến nỗi nếu không có những ưu đăi hay đặc quyền đặc lợi ấy, ta cảm thấy thiếu thốn, bực bội. Từ đó, như một phản xạ có điều kiện, khi ta giới thiệu hay rao giảng về Đức Giêsu, phản ứng tự nhiên của ta là đ̣i hỏi những ưu đăi hay đặc quyền đặc lợi ấy. Và cuộc đời tông đồ của ta dần dần bị biến chất. Ta không c̣n quan tâm chính yếu tới Đức Giêsu mà ta đang giới thiệu, rao giảng, nhưng ta lại t́m chính ta, t́m danh vọng, địa vị, ưu đăi trong chính công việc tưởng chừng rất thánh thiện ấy. Và khi bổn phận tông đồ buộc ta phải từ bỏ chúng, ta không thể chấp nhận được. Ta cố níu lại cho bằng được những thứ ấy. Đó chính là một trong những cám dỗ rất thường gặp nơi những người làm tông đồ, những người giới thiệu Đức Giêsu như Gioan Tẩy giả. Thiết tưởng chúng ta luôn luôn tỉnh táo kẻo sa vào chước cám dỗ ấy, v́ có biết bao người đă ch́m đắm trong đó rồi!

Cầu nguyện

Lạy Cha, con biết Cha là nhờ Đức Giêsu giới thiệu, và biết Đức Giêsu là nhờ Giáo Hội, nhờ một ai đó giới thiệu. Nhờ đó, con được diễm phúc biết và yêu mến Cha, biết và tin theo Đức Giêsu để được cứu độ. V́ thế, con cảm thấy ḿnh thật ích kỷ nếu không tiếp tục giới thiệu cho những người khác nữa biết về Cha, về Đức Giêsu. Nhưng xin hăy cho con biết và tin đích thực, đồng thời sống thật sự niềm tin ấy trước khi giới thiệu niềm tin ấy cho người khác. Amen.

 

37. Đáp lời Chúa kêu gọi - Lm. Minh Vận

Sau 9 năm trường giầm ǵa trong vũng bùn lầy trụy lạc tội lỗi, Thiên Chúa đă kêu gọi và thức tỉnh lương tâm Margarita de Cortone, bằng cách cho người cô gái hoang đàng ấy chứng kiến một cảnh ghê rợn. Một thây chết nát rữa thối tha là t́nh nhân của nàng trước đây, tại một góc rừng lúc bất ngờ nàng đi qua. Trước cảnh hăi hùng đó, khiến nàng rất bàng hoàng xúc động và tự hỏi: "Lạy Chúa, sau đó c̣n lại cái ǵ?" Thế rồi, người con gái tội lỗi đó đă trở về với gia đ́nh, xin lỗi thân phụ. Để tỏ ḷng ăn năn sám hối, nàng đă tṛng một giây thừng vào cổ và đă đến xin các Cha Ḍng Thánh Phanxicô hướng dẫn. Rồi sau 3 năm đầy thử thách, với nhiều đêm ngày khóc lóc, ăn chay, đền tội, Margarita đă khoác trên ḿnh bộ tu phục Ḍng Ba Thánh Phanxicô, sống cuộc đời thánh thiện.

Để đáp lại t́nh Chúa yêu thương và lời kêu gọi của Chúa, Margarita đă biến nhà ḿnh thành một bệnh xá vừa săn sóc bệnh nhân vừa lao động sản xuất để nuôi họ. Ma quỉ căm hờn, dùng trăm phương ngàn kế để cám dỗ Margarita bỏ đàng nhân đức, trở lại đàng tội lỗi trụy lạc; nhưng Margarita đă toàn thắng và luôn vững tiến trên đàng nhân đức. Ơn Chúa tuôn trào trên tôi tớ trung nghĩa của Ngài, khiến Margarita đă làm cho vô số tội nhân cải tà qui chính, bỏ đàng tội lỗi, ăn năn trở lại với Chúa.

I. TIẾNG CHÚA LUÔN KÊU GỌI CON NGƯỜI

Bài sách Samuel hôm nay thuật lại câu truyện Chúa đă gọi Samuel, để trao cho cậu một trọng trách của Chúa. Giữa đêm khuya đang ngon giấc trong Đền Thờ, bỗng tiếng Chúa vọng bên tai cậu: "Samuel! Samuel!" Cậu giật ḿnh thức giấc, vội vă chạy lại Thầy Cả Heli thưa: "Này con đây, v́ Thầy gọi con". Cứ như vậy, măi tới lần thứ ba, Thầy Cả Heli biết đó là tiếng Chúa kêu gọi Samuel, nên đă bảo cậu: "Con hăy đi ngủ lại, và nếu Người gọi con, th́ con hăy thưa rằng: "Lạy Chúa, xin hăy phán, v́ tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe!" Samuel về chỗ ngủ lại. Chúa tới gần và lại gọi Samuel như trước: "Samuel! Samuel!" Và Samuel thưa: "Lạy Chúa, xin hăy phán, v́ tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe!"

Tiếng Chúa kêu gọi con người bằng nhiều cách thế khác nhau: Chỉ một vài trường hợp đặc biệt, Chúa đă thân hiện đến, kêu gọi đích danh, như trường hợp của cậu Samuel, nhưng hầu hết Chúa đă dùng những cách thế thông thường, như lời khuyên nhủ của các vị đại diện Chúa, lời giảng dạy của một vị giảng thuyết, một ơn soi dẫn trong tâm hồn, một giấc chiêm bao hay một biến cố nào đó của cuộc đời. Trong tất cả mọi hoàn cảnh đó, các Thánh đă mau mắn đáp lại, khi các ngài nhận ra thánh ư Chúa.

Thánh Phanxicô thành Assisi, một chàng trai giầu sang háo danh, cũng chỉ v́ nghe lời Chúa phán được trưng lại trong một bài giảng: "Con người được lợi lăi cả thế gian, mà thiệt mất linh hồn ḿnh th́ được ích ǵ". Ngài đă quyết tâm bỏ mọi sự, sống đời khó nghèo và đă chinh phục được biết bao người theo ngài, để hiến thân phụng sự Chúa, xây dựng Giáo Hội và giúp ích cho biết bao linh hồn.

Thánh Ignatiô, một sĩ quan quân đội bị trọng thương, đang thời gian nằm điệu trị tại bệnh viện, bất ngờ đọc cuốn truyện các Thánh, ngài cảm thấy thán phục, nên đă quyết tâm sống theo thánh ư Chúa soi dẫn, lập nên một Hội Ḍng lớn với danh hiệu Ḍng Chúa Giêsu, đem lại bao lợi ích cho Giáo Hội và thế giới.

Thánh Augustinô, từ một chàng trai trụy lạc tội lỗi được cải hóa và đă trở nên một vị Đại Thánh Tiến Sĩ của Giáo Hội, chinh phục biết bao linh hồn trở về với Chúa, qua những tác phẩm giáo huấn và lời giảng dạy khôn ngoan của ngài... C̣n biết bao trường hợp tương tự, ơn Chúa đă thực hiện cách lạ lùng nơi đời sống của các Thánh.

II. THÁI ĐỘ CHÚNG TA TRƯỚC LỜI CHÚA

Ngày lănh Bí Tích Thánh Tẩy, Chúa đă kêu gọi chúng ta theo Chúa, đă giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi và quyền lực hỏa ngục, ban cho chúng ta được diễm phúc làm con Chúa; đồng thời, ủy thác cho chúng ta sứ mạng làm tông đồ đem Tin Mừng của Chúa đến cho muôn người. Nhưng để thực thi sứ mạng tông đồ đó cách hữu hiệu hơn, Chúa c̣n dùng nhiều cách thế, nhiều hoàn cảnh, nhiều cơ hội thuận tiện khác nhau hoặc bởi nhiều biến cố, nhiều nguyên nhân khác nhau, để kêu gọi và tỏ cho chúng ta biết thánh ư Chúa, muốn chúng ta sống trong ơn gọi hay địa vị nào, hợp với mỗi môi trường và hoàn cảnh khác nhau; đồng thời, ban cho chúng ta những ơn thánh cần thiết, để chúng ta có thể làm trọn thánh ư Chúa.

Nhưng đứng trước lời Chúa kêu gọi, chúng ta cần có thái độ nào? Chúng ta đă mau mắn, dứt khoát, can đảm và quảng đại đáp lại lời mời gọi ân t́nh của Chúa như các Thánh đă làm chưa?

Margarita sau khi bỏ đàng tội lỗi, không những ngài đă trở thành một vị Thánh, mà ngài c̣n chinh phục biết bao linh hồn tội lỗi khác trở về với Chúa.

Thánh Phanxicô, Ignatio, Augustinô, sau khi nghe tiếng Chúa kêu gọi, các ngài đă trung thành phụng sự Chúa, không những bằng đời sống thánh thiện của ḿnh, mà các ngài c̣n tận lực dùng ảnh hưởng, dùng tài sức khôn ngoan thông thái Chúa ban, để cải hóa, chinh phục biết bao linh hồn cũng can đảm hiến thân phụng sự và làm tông đồ vinh danh Chúa. Sự nghiệp lớn lao và gương mẫu thánh thiện của các ngài vẫn c̣n tồn tại trong Giáo Hội và có sức chinh phục các linh hồn qua muôn thế hệ.

Các Thánh đă không hề làm uổng phí ơn Chúa đă ban cho các ngài, bởi v́ các ngài đă hết ḷng phụng sự yêu mến Chúa, chỉ khát khao làm vinh danh Người. Do đó, các Thánh đă tận lực dùng mọi cách thế, với tất cả khả năng, lợi dụng mọi hoàn cảnh, mọi cơ hội, để cổ vơ, khuyến khích, chinh phục, lôi kéo các linh hồn về cho Chúa, để họ cũng được diễm phúc làm con Chúa, phụng sự và yêu mến Chúa. Như trong bài Tin Mừng hôm nay, khi Gioan Tiền Hô thấy Chúa Kitô đi ngang qua, ngài giới thiệu với hai môn đệ của ngài: "Đây là Chiên Thiên Chúa" và cho hai môn đệ ông đi theo Chúa. Rồi khi Anrê đă gặp được Chúa rồi, lại sung sướng giới thiệu với Simon: "Chúng tôi đă gặp được Đấng Messia" và dẫn ngay anh ḿnh đến với Chúa Giêsu.

Khi các Thánh đă nhận biết Chúa, cảm nghiệm được hạnh phúc trong t́nh yêu mến Chúa, các ngài cũng sốt sắng, khát khao chia sẻ niềm vui sướng và thôi thúc người ta đến với Chúa, để họ cũng được hưởng niềm an vui hạnh phúc được yêu mến và phụng sự Chúa như các ngài. Cũng giống như cậu Samuel, các Thánh mỗi ngày càng tiến cao trong đàng thánh thiện, lập thêm nhiều công phúc, làm vinh danh Chúa, v́ được Chúa hằng ở cùng các ngài, các ngài không để uổng phí lời nào trong các thánh ngôn Chúa phán dạy (xem 1 Sam 3:19).

KẾT LUẬN

Chớ ǵ chúng ta có tâm hồn như Mẹ Maria và các Thánh, luôn mau mắn, dứt khoát, can đảm và quảng đại đáp lời Chúa kêu gọi, tiến thân theo Chúa, hết ḷng yêu mến, phụng sự và làm vinh danh Ngài. Để cũng luôn được tâm hồn ngoan thảo thưa được với Chúa: "Này con xin đến để thi hành thánh ư Chúa" (xem Heb 10:7).

 

38. Bước theo Ngài - Thiện Mỹ

Người Ấn Độ kể rằng:

Có một thanh niên khao khát được nh́n thấy Chúa. Ngày đêm anh cầu nguyện cho ước mong được thành sự thật.

Không bao lâu Chúa hiện đến với anh dưới h́nh dạng một người đẹp đẽ, uy quyền và dễ mến. Chúa hỏi anh:

- Con có muốn đi với Ta một quăng đường không?

Người thanh niên cảm thấy hạnh phúc hơn bao giờ hết. Chúa và anh cùng sánh bước như đôi bạn tri kỷ. Đi được một lúc Chúa hỏi:

- Ta khát nước, con có thể đi t́m cho Ta ít nước không? Người thanh niên hăm hở đi t́m nước. Ḷng anh tràn ngập hân hoan. C̣n ǵ sung sướng cho bằng đi t́m nước cho Chúa.

Nhưng anh đi măi mà không thấy nước đâu. Anh tiếp tục đi và sau cùng anh tới một ḍng sông, anh đang chuẩn bị lấy nước mang về cho Chúa th́ t́nh cờ xuất hiện một cô gái xinh đẹp, cô gái đẹp tới độ làm người thanh niên không c̣n thấy cảnh vật chung quanh cũng chẳng nghĩ đến mang nước về cho Chúa nữa.

Anh lân la đến làm quen với cô gái. Họ thương nhau, lấy nhau và sinh nhiều con cái, không ǵ hạnh phúc cho bằng... Thế rồi chuyện không may xảy ra, một cơn ôn dịch xảy tới, người thanh niên đưa vợ con đi nơi khác. Khi đi qua một chiếc cầu th́nh ĺnh mưa gió thổi đến, nước dâng lên,cuốn cả vợ con anh. C̣n anh th́ may mắn bám được vào một gốc cây. Anh khóc thương cho số phận vợ con cũng như kiếp cô đơn của ḿnh.

Giữa lúc đó Chúa lại xuất hiện trước mặt anh. Ngài ôn tồn hỏi:

- Này con, con có mang nước về cho ta không? Con làm ǵ để Ta chờ đợi cả tiếng đồng hồ vậy!

Chắc hẳn ai ai cũng thầm trách người thanh niên đểnh đoảng đến thế. Nhưng xét cho kỹ th́ đó là sự mê hoặc thường t́nh của con người. Cũng như khi đọc lại những trang đầu của bộ sách Kinh Thánh, khi nguyên tổ đồng hành với Thiên Chúa trong ân sủng, lại bị sai sót rơi vào lời dụ dỗ của ma quỉ, để rồi loài người bị gián đoạn nhiều ngàn năm chờ đợi vị cứu tinh. Hôm nay Phúc Âm tỏ cho chúng ta thấy việc Chúa lại bắt đầu cuộc sống thân t́nh với loài người.

Hôm ấy Thánh Gioan Tẩy Giả cùng với hai môn đệ đang đứng bên bờ sông.Trông thấy Chúa Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa Hai môn đệ nghe nói, liền xin phép Thầy để theo Chúa. Có lẽ hai môn đệ này đă được nghe nói về Chúa Giêsu nhiều và đă hỏi ư Thầy trước nên mới vội vă xin theo Ngài.

Nghe bài Tin Mừng trên chúng ta lại thèm khát cho số phận "sinh sau đẻ muộn" của ḿnh v́ không được tốt số sống đồng thời với Chúa Giêsu để rồi theo sát khít bước chân của Ngài, sống chết với Ngài như các Thánh Tông Đồ năm xưa. Nhưng giả sử tất cả chúng ta có được sống chung với Ngài, theo bước chân Ngài đi rao giảng khắp mọi nơi. Giả thiết này cũng chỉ giải quyết được những thanh niên, c̣n các phụ nữ ngày xưa đâu có ở luôn bên Chúa và những người bệnh tật, trẻ con, già cả làm sao mà ở với Chúa được. Thế nên Chúa chỉ chọn 12 Tông Đồ mà thôi. Và để trả lời đáp án này, Chúa Giêsu nói với chị người Samaritana bên bờ giếng Giacóp rằng: "Những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa trong Thần Khí và sự thật".

Như chúng ta đă biết:"Chúa ở khắp mọi nơi". Đó là giáo lư sơ đẳng cho mọi tín hữu. Và trong thời đại này Lời Chúa đă được lan tràn khắp thế giới. Hơn nữa ta có thể thấy Ngài hiện diện trong mọi tạo vật.

"Mắt và cánh của một con bướm đủ để đánh đổ một nhà vô thần" (Diderot).

Chẳng hạn chúng ta yêu thích người bạn trăm năm của ḿnh không những v́ dáng vẻ bên ngoài, v́ con tim nồng ấm, mà c̣n v́ Thiên Chúa ở trong hữu thể của họ. Thiên Chúa ngự trị giữa gia đ́nh nơi từng người con trai cũng như con gái. Nhờ đó chúng ta sẽ phấn khởi phục vụ và dẫn đưa cả gia đ́nh về miền đất hứa vĩnh cửu.

Sứ mệnh con người không phải là kiếm cho được nhiều tiền, cũng không phải là t́m kiếm một ước vọng sa xôi hăo huyền. Sứ mệnh con người là nhận biết Thiên Chúa để yêu mến và phụng sự Ngài. Người tu tŕ thể hiện t́nh yêu Chúa nơi cộng đoàn tu tŕ hoặc cộng đoàn dân Chúa. C̣n giáo dân thể hiện t́nh yêu Chúa nơi mái ấm gia d́nh. Tất cả mọi trái tim làm nên khối t́nh yêu vĩ đại dâng lên Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh của đời sống.

Thật sự đời sống của con người chỉ có ư nghĩa khi nh́n thấy bước chân của Ngài ở khắp mọi nẻo đường trong cuộc sống. Ngài ẩn ḿnh trong muôn ngàn hoa sắc thắm, trong gịng suối mát dù ở tận rừng sâu thẳm, trong bầu trời lấp lánh của các v́ sao, trong trái tim của nhân loại nơi người em thơ cũng như người già yếu v.v.

Mỗi người sẽ hoàn thành công việc bước theo chân Ngài trong trách vụ được trao phó để rồi đời sống mai hậu sẽ được phần thưởng nhiều hay ít là tùy ở sự đáp yêu của từng người.

Để bước theo chân Chúa Giêsu cách mau lẹ, chúng ta hăy nh́n lên gương mẫu tuyệt vời là Đức Maria. Mẹ đă đồng hành với Chúa Giêsu từ lúc thưa lời xin vâng đầu tiên trong ngày truyền tin cho đến lời xin vâng cuối cùng trên thập giá. V́ thế Đức Mẹ được ban tặng mọi danh hiệu nhân đức cao cả.

 

39. Cách thức Thiên Chúa kêu gọi con người

(Suy niệm của Lm Nguyễn Hữu Thy)

Bài Sách Thánh trích từ Sách Sa-mu-en thuộc phần Cựu Ước và bài Phúc Âm theo thánh Gioan của Chúa Nhật thứ 2 Mùa Thường Niên hôm nay có một tương quan hết sức mật thiết. Bài Sách Thánh tŕnh bày câu chuyện cậu học tṛ Sa-mu-en được Chúa kêu gọi làm Tiên Tri, c̣n trong bài Phúc Âm thánh sử Gioan tường thuật lại ơn kêu gọi hai môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu, mà một trong hai người môn đệ đó là chính tác giả của bài Phúc Âm.

Điều quan trọng khiến chúng ta không thể bỏ qua được trong hai bài tường thuật về ơn gọi của cậu học tṛ Sa-mu-en cũng như của các môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu là sự can thiệp của một đệ tam nhân, của người làm trung gian. Vâng, trong ơn gọi của Sa-mu-en chính là Thầy Cả Thượng Phẩm Hê-li, người mà cha mẹ Sa-mu-en đă trao phó con trai ḿnh để ngài giáo dục và dẫn dắt cậu trên đường hiến dâng cho Thiên Chúa. Một hôm đang ngủ, Sa-mu-en bỗng nghe như có ai gọi tên cậu và cậu liền chạy lại cùng Thầy Cả Hê-li ngay và thưa: “Này con đây, Thầy đă gọi con!” Thầy Cả Hê-li biết ngay là Thiên Chúa gọi cậu bé nên đă cho cậu về pḥng và căn dặn hăy cứ tiếp tục mau mắn và sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa gọi như thế. Vậy, Thầy Cả Hê-li đă hoàn thành nhiệm vụ của ḿnh. Thầy Cả đă dầy công dạy dỗ và d́u dắt Sa-mu-en trở thành ngoan ngoăn thuần thục, để chuẩn bị sẵn sàng cho sứ mệnh từ Trời Cao giao phó. Nay thời giờ cho sứ mệnh đó đă điểm, một Đấng Cao Cả hơn muốn đ̣i lại cậu bé Sa-mu-en và Thầy Cả Thượng Phẩm Hê-li đă dâng hoàn trả lại cậu bé cho Đấng Cao Cả đó.

C̣n trong bài tường thuật của Phúc Âm, Gioan Tiền Hô cũng đă cảm nghiệm được rằng sứ mệnh huấn luyện đoàn môn đệ đang luôn vây quanh ngài đă đến lúc hoàn tất. Một Đấng khác cao cả hơn ngài đă đến và cũng chỉ v́ Đấng đó mà ngài đă huấn luyện đoàn môn đệ kia bấy lâu. Nay đă đến lúc ngài phải trao trả lại các môn đệ cho Đấng đó. “Ḱa là Con Chiên Thiên Chúa”, Gioan Tiền Hô đă chỉ tay về phía Đức Giêsu và giới thiệu cho hai người môn đệ như thế khi ngài thấy Đức Giêsu đang đi ngang qua trước mặt ḿnh. Và hai người môn đệ đă hiểu được ngay lời thầy ḿnh: “Hai người môn đệ nghe ông nói và liền theo Đức Giêsu.”

Qua sự diễn biến về ơn gọi của Sa-mu-en và của hai người môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu, chúng ta khám phá ra được đường lối của Nước Thiên Chúa, hay nói cách khác, cách thức hành động của Thiên Chúa. Đó là không một ai được kêu gọi trực tiếp dâng hiến phụng sự Thiên Chúa hay làm môn đệ Đức Giêsu, nhưng đương sự phải nhờ vào đời sống đức tin có ấn tượng mạnh mẽ, gương sống đạo sâu sắc và sự tận tâm giúp đỡ của đệ tam nhân, của đồng loại khác. Dĩ nhiên, sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người, giữa Đức Giêsu và người môn đệ là một điều hoàn toàn mang tính cách cá nhân. Vâng, tiếng “xin vâng” đáp lại lời kêu mời của Thiên Chúa, tiếng “xin vâng” của đức tin và của ḷng tuân phục đối với Thiên Chúa, không một ai có thể làm thay cho người khác được. Đó là ngưỡng cửa mà mỗi người phải tự bước qua với tất cả ư thức trách nhiệm. Thế nhưng, khoảng cách trên đoạn đường t́m về ngưỡng cửa đó, chúng ta cần phải có sự hướng dẫn của bao người khác, những người đă đi trước và đă bước qua ngưỡng cửa đó trước chúng ta, những người đă có đầy đủ kinh nghiệm về Thiên Chúa như Thầy Cả Hê-li; và những người được gửi tới để làm bạn đường hướng dẫn chúng ta, như Gioan Tiền Hô: Cha mẹ, các cha linh hướng, các thầy cô và bạn bè tốt, v.v...

Vâng, Ơn gọi sống đức tin là một ơn nhưng không của Thiên Chúa ban, và “Thánh Thần hoàn toàn tự do, muốn thổi đâu tuỳ ư”, tuy nhiên ảnh hưởng và sự d́u dắt nâng đỡ của kẻ khác cũng hầu như là một điều kiện tất yếu trong Ơn Gọi vậy. Cũng như, không hẳn là một thửa đất đă được cày bừa thuần thục là sẽ được bác nông dân gieo hạt giống tốt vào đó, nhưng điều kiện để bác nông dân gieo hạt giống của ḿnh vào thửa đất là trước hết thửa đất phải được cày bừa và sửa soạn thuần thục trước đă.

Tiếp đến, Sa-mu-en sẽ không bao giờ quên Thầy ḿnh là Hê-li, hai Tông đồ Gioan và An-rê cũng sẽ không bao giờ quên sư phụ đầu tiên của các ngài là Gioan Tiền Hô. Cũng vậy, chúng ta không bao giờ được phép quên ơn những người đă dạy dỗ, đă giúp đỡ chúng ta trong việc nhận biết Thiên Chúa, biết khám phá ra và đầy tin yêu đáp lại tiếng Người mời gọi chúng ta, dù cho đă xảy ra trong tuổi thơ qua đường lối vâng lời đơn sơ như trường hợp cậu bé Sa-mu-en, hay qua những thăm ḍ và t́m hiểu dè dặt của các thanh thiếu niên trưởng thành như trong trường hợp của các môn đệ Gioan Tiền Hô. Mỗi người hành động tương tự theo lứa tuổi và cách thức của ḿnh như thế đều đúng và đều quan trọng. Tuy nhiên, trường hợp thứ hai cần phải nối tiếp, đổi mới và đào sâu trường hợp thứ nhất, nói cách khác, sau khi t́m hiểu Ơn Gọi của ḿnh, con người c̣n phải biết đơn sơ phó thác đáp lại tiếng Chúa, biết đơn sơ tin tưởng vâng theo Thánh Linh Chúa hướng dẫn. Bởi vậy, bạn đừng coi thường đức tin đơn sơ của tuổi thơ, nhưng bạn cũng đừng ngạc nhiên khi một ngày nào đó đức tin đơn sơ của tuổi thơ được thay thế bằng đức tin có ư thức và đầy thâm tín của người trưởng thành. Cả hai giai đoạn đều cần thiết và đều bổ túc cho nhau.

Vâng, nếu ngày nay bạn là một người trưởng thành với đời sống đức tin sống động, là do đức tin đó đă ăn rễ sâu trong con người bạn từ tuổi thơ rồi. Nhưng cả hai giai đoạn đó của đức tin - trong tuổi thơ và tuổi trưởng thành - đều cần đến sự nâng đỡ và hướng dẫn của kẻ có kinh nghiệm trong vấn đề.

Dĩ nhiên mỗi giai đoạn mỗi khác. Cách thức hướng dẫn của thầy cô ở nhà trường, của các giáo lư viên hay của cha xứ ở các lớp giáo lư khác với sự chỉ dạy của cha mẹ ở nhà khi các ngài lần đầu tiên dạy cho bạn biết kêu tên Chúa hay dạy cho bạn cách giơ tay làm Dấu Thánh Giá, v.v.. Cũng vậy, cách thức hướng dẫn của Thầy Cả Hê-li đối với bé Sa-mu-en không giống thái độ của Gioan Tiền Hô đối với hai môn đệ trưởng thành của ông. Thầy Cả Hê-li dạy bé Sa-mu-en: Con hăy làm như thế này. C̣n Gioan Tiền Hô lại sử dụng một phương pháp khác: Ông chỉ giới thiệu và cho các môn đệ thông tin về Đức Giêsu: “Kià là con Chiên Thiên Chúa”.

Cả hai trường hợp, Thầy Cả Hê-li và Gioan Tiền Hô đều nhằm cùng một mục đích: Trao trả những người được giao phó cho ḿnh lại cho Đấng Cao Cả hơn, v́ sứ mệnh của các ngài là sống và hướng dẫn dạy dỗ kẻ khác cho Đấng đó mà thôi.

Đàng khác, qua thái độ sống gương mẫu và cách thức thực thi tốt sứ mệnh được giao phó cho ḿnh của Hê-li và của Gioan Tiền Hô, chúng ta cảm nhận được rằng thật không ǵ đẹp đẽ và cao quí hơn là được hướng dẫn và giúp đỡ kẻ khác trên con đường dẫn tới Đức Kitô. Nhưng đồng thời chúng ta cũng phải học nơi các ngài là khi nào phải biết can đảm chấm dứt sứ mệnh đă nhận lănh, khi nào phải rút lui khỏi chức vụ và nhiệm sở đă được trao phó, để nhường lại cho người kế vị và nhất là trao trả lại cho Thiên Chúa. Không phải tất cả các bậc cha mẹ, các nhà giáo dục, các vị Linh mục, v.v... đă xử sự như Thầy Cả Hê-li và như Gioan Tiền Hô. Nhưng, hoặc họ quá dính bén một cách trần tục vào chức vụ thiêng liêng, hoặc họ chỉ muốn các thụ nhân của họ phải luôn lệ thuộc và phải luôn nhờ đến sự chăm sóc giúp đỡ của họ.

Họ quên rằng một chương tŕnh giáo dục chỉ được coi là thành công khi người thụ nhân trưởng thành, tự có thể t́m ra cho ḿnh một hướng đi riêng độc lập và không c̣n cần đến sự hướng dẫn của nhà giáo dục nữa. Cũng v́ thế, khi người thanh niên tự chọn cho ḿnh một con đường sống khác với sự dự định và ḷng mong muốn của chúng ta - là cha mẹ, cha linh hướng và các nhà giáo dục - th́ chúng ta phải tôn trọng sự tự do đó.

Mỗi người đều được tự do thờ phượng Chúa theo cách thức của ḿnh. Mỗi người đều được tự do chọn lựa cho ḿnh con đường t́m đạt hạnh phúc. Chúng ta phải tôn trọng sự lựa chọn đó, cả khi chúng ta tin chắc rằng sự lựa chọn đó hoàn toàn khác với sự hướng dẫn chính đáng của chúng ta và sẽ không dẫn tới Thiên Chúa, th́ điều chúng ta vẫn cần phải làm là hăy tôn trọng sự tự do đó. V́ không ai được phép ép buộc người khác phải chạy đến cùng Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa cũng không ép buộc bất cứ ai phải đến với Người. Nếu không, mọi sự sẽ đưa tới một hậu quả tồi tệ hơn.

Quả vậy, chúng ta hăy quan sát xem chính Đức Giêsu đă tôn trọng sự tự do của hai người thanh niên là Gioan và Anrê đang t́m đến với Người một cách nhă nhặn như thế nào: “Các anh muốn tôi giúp được ǵ cho các anh đây?” Người hoàn toàn để hai chàng thanh niên được tự do tŕnh bày ư nguyện của họ: “Thưa Thầy, nhà Thầy ở đâu?”, nghĩa là họ muốn nói: Trước hết chúng tôi chỉ muốn có những thông tin chắc chắn về Thầy đă! Đối lại, Đức Giêsu cũng chỉ cho tin một cách hết sức khách quan, chứ không khuyến dụ hay lôi kéo hai anh: “Các anh hăy tới xem cho biết”, và “họ đă đi với Người và đă nh́n thấy nhà người đang ở, và họ đă ở lại đó với Người cho hết ngày hôm đó”. Sau rất nhiều năm, vị thánh sử và đồng thời cũng là người môn đệ c̣n ghi rơ: “Đó là vào giờ thứ mười”. Chính đó là giờ mà lần đầu tiên trong đời anh đă bước qua ngưỡng cửa nhà Đức Giêsu và đă được làm quen với Người. Điều đó nói lên rằng suốt đời anh sẽ không bao giờ quên những giờ phút hạnh phúc được sống với Đức Giêsu.

Sau cùng, để có thể cảm nghiệm được cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu đă nung nấu, động viên và thay đổi được con người của hai chàng thanh niên đó như thế nào, chúng ta hăy nh́n vào thành quả của buổi gặp gỡ: Chỉ mấy ngày sau đó, An-rê đă t́m gặp em ḿnh là Simon và dẫn chàng đến gặp Đức Giêsu. Qua sự kiện đó, đường lối căn bản cố hữu của Thiên Chúa lại được sử dụng ở đây, là người này hướng dẫn người kia tới cùng Người, kẻ này giúp đỡ kẻ nọ t́m gặp được Người, và cứ thế măi! Vậy để thử nghiệm xem đức tin của chúng ta có c̣n sống động hay không và liệu chính chúng ta đă bước qua ngưỡng cửa để vào nhà Đức Giêsu hay chưa, chúng ta hăy tự hỏi ḷng ḿnh là chúng ta đă nỗ lực thực thi đường lối cơ bản của Nước Thiên Chúa, tức đưa dẫn người khác đến cùng Đức Giêsu hay không!

 

40. Hăy đến, xem và ở lại cùng Người

(Suy niệm của Lm. Nguyễn Khoa Toàn)

Norman Vincent Peale là tác giả nổi tiếng viết khá nhiều sách trong đó có best-seller "The Power of Positive Thinking". Một ngày kia, đang dạo phố ở Hồng Kông, Peale t́nh cờ đi ngang qua một tiệm xâm h́nh. Trên khung cửa kiếng trưng bày đủ loại đủ kiểu xâm nhưng có một hàng chữ đập mạnh vào mắt Peale: "Born to Lose". Không nén nỗi ṭ ṃ, Peale đẩy cửa buớc vào, chỉ vào hàng chữ trên rồi nói: "That one!"

Người thợ xâm không nói không rằng chỉ lẳng lặng ra hiệu cởi áo ngoài ra th́ Peale liền xua tay: "Không! Tôi không có ư xâm đâu nhưng chỉ muốn hỏi là đă có ai vào xâm hàng chữ 'Born to Lose' kia chưa?" "Cũng có vài người." "Ông không đùa đấy chứ?" Peale trố mắt kinh ngạc. Bằng một giọng lơ lớ tiếng Anh, người thợ xâm b́nh thản trả lời: "Before tattoo on chest, tattoo on mind." (Truớc khi xâm trên ngực, [họ] đă xâm trong đầu rồi)...

Peale choáng váng mặt mày như không tin vào tai ḿnh nữa. Sao ai lại vào đây và xâm trên da thịt ḿnh những chữ rất tiêu cực kia? Oái ăm thay! Điều ǵ cũng có thể xảy ra dưới ánh mặt trời này!!!

Thực thế, linh mục tâm lư gia ḍng Tên John Powell đă viết là có những người không bao giờ tin tưởng vào khả năng ḿnh. Giả như có ai nhờ điều ǵ hoặc cậy việc chi, họ điều t́m đủ mọi cách từ chối thoái thác. Có thể một phần v́ ngại ngùng, nhưng cũng có thể phần lớn của sự ngại ngùng kia là họ không tin chính vào sức ḿnh.

Khi Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ 'đến và xem' chỗ Người ở, họ đă đến. Đă xem. Và họ quyết định 'ở lại' cùng Người. Họ ở lại v́ chẳng những họ tin Đức Giêsu chính là Chiên Thiên Chúa mà là Chiên Thiên Chúa sẽ làm những việc kỳ diệu của Người qua chính họ.

Họ ở lại. Không một chút đắn đo! Cũng chẳng một phút ngại ngùng! Chúng ta cũng thế. Qua bí tích Rửa Tội, chúng ta đuợc mời đến và xem và dẫu cho muôn ngàn khó khăn chông gai đang chờ đón, chính chúng ta quyết định ở lại và cùng Người tiến buớc gieo Tin Mừng Cứu Rỗi.

Không phải dễ dàng đâu nếu không xâm trong óc trong tim một ḷng tin tuyệt đối vào Thiên Chúa. Và vào chính ḿnh. Đuờng theo chân Chúa chỉ có thể cho những người tay áo luôn xắn cao sẵn sàng đối đầu với những hiểm nguy và thử thách thế trần.

Khi Thiên Chúa luôn là trọng tâm của cuộc đời, chúng ta sống vũng tin hơn vào chính ḿnh v́ thân xác ḿnh, như lời thánh Phaolô, chính là "đền thờ Thánh Thần Chúa". Và đền thờ này không phải đuợc giản đơn định giá qua lăng kính 'ngoại h́nh cân đối' mà là một tinh thần tuyệt đối trung kiên.

"Đuờng đi khó, không khó v́ ngăn sông cách núi, mà chỉ khó v́ ḷng người ngại núi e sông!" Đă bước sang tuần thứ hai của năm mới, nhưng cũng chưa muộn lắm đâu khi chúng ta cầu chúc cho nhau đuợc thêm ḷng tin vào Thiên Chúa. Và hăy mạnh dạn xâm niềm tin ấy vào máu vào tim. Như Samuen và các tiên tri xưa kia. Như các thánh tông đồ hai ngàn năm truớc. Họ đă đến. Đă xem. Và đă trung kiên ỡ lại cùng Người...

 

41. Đáp trả và sống ơn gọi mỗi ngày

(Suy niệm của Lm Trần B́nh Trọng)

Nh́n thấy Đức Giêsu đi qua, ông Gioan tiền hô liền giới thiệu hai môn đệ của ḿnh cho Chúa: Đây là Chiên Thiên Chúa (Ga 1:36). Một trong hai môn đệ đi theo Chúa th́ Phúc âm hôm nay nêu danh tính là Anrê, c̣n ông kia được giấu tên. Tuy nhiên học giả Thánh kinh đoán là ông Gioan tông đồ v́ ông có khuynh hướng hay giấu tên ḿnh. Hai trường hợp khác ông cũng giấu tên là khi ông viết: Người môn đệ mà Chúa yêu (Ga 13:23; Ga 19:26-27; Ga 20:2) và ông c̣n tường thuật về: Người môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đă tới mộ trước (Ga 20:4).

Hai môn đệ của ông Gioan tiền hô chấp nhận lời mời gọi của Chúa: Hăy đến mà xem (Ga 1:39). Họ đến xem nơi Chúa ở và quyết định ở lại với Người và đi theo Người. Gioan tiền hô không đặt vấn nạn về việc hai môn đệ đào ngũ đi theo Chúa, v́ ông chủ trương Đấng cứu thế phải được tỏ hiện, c̣n ông phải rút lui vào bóng tối (Ga 3:30). Hành động đầu tiên của Anrê khi t́m thấy nơi Chúa ở là đi t́m anh ḿnh là ông Simon để giới thiệu với Chúa. Khi Simon đến gặp Chúa, Chúa liền đổi tên ông thành Phêrô, có nghĩa là đá. Chúa đặt cho ông tên này v́ Chúa biết trước Người sẽ đặt ông làm đầu Giáo hội. Ông sẽ trở nên như tảng đá vững chắc cho toà nhà Giáo hội của Chúa.

Các ông đi theo Chúa, chắc chắn trăm phần trăm không phải v́ Chúa ở nhà cao cửa rộng. Trong đời sống ẩn dật, Chúa ở tại nhà Nadarét. C̣n trong đời sống công khai, Phúc âm chỉ nhắc Chúa ở lại nhà ông Dakêu (Lc 19:5) và có những lần ở nhà ba chị em Mác-ta, Maria và Ladarô (Lc 10:38; Ga 12:2). Những trường hợp khác ta có thể đoán khá chắc chắn rằng Chúa sống kiểu bụi đời: nay đây mai đó, có thể tá túc ở túp lều vải lưu động để che mưa nắng, đi th́ gấp vào rồi mang theo. Lối sống vô gia cư này được Chúa xác nhận khi có người trong Phúc âm muốn đi theo Chúa, th́ Chúa bảo: Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu (Mt 8:20; Lc 9:58). Theo Chúa trong trường hợp và hoàn cảnh như vậy phải kể là mạo hiểm, nếu chưa nói là liều lĩnh v́ nước Trời. Bài trích sách Sa-mu-en quyển một cho thấy câu chuyện Chúa gọi Samuen để thi hành sứ mệnh lănh đạo dân Chúa và làm ngôn sứ. Samuen trả lời sẵn sàng: Lạy Chúa, xin hăy nói, v́ tôi tớ Chúa đang lắng nghe (1Sm 3:10).

Nói đến ơn gọi nhiều người nghĩ rằng chỉ có linh mục và tu sĩ nam nữ mới được ơn Chúa gọi làm việc tông đồ truyền giáo. Thực ra mỗi người tín hữu đều có ơn gọi. Nói chung có ba thứ ơn gọi khác nhau: ơn gọi làm linh mục tu sĩ nam nữ, ơn gọi sống đời hôn nhân, ơn gọi sống độc thân giữa đời. Người giáo dân sống độc thân hay có gia đ́nh qua Bí tích Rửa tội và Thêm sức đều được gọi để làm việc tông đồ giáo dân bằng lời cầu nguyện, gương sáng, bằng việc bác ái phục vụ theo khả năng và phương tiện có thể.

Theo thánh Phaolô th́ trong Giáo hội có những ơn gọi, những chức vụ và vai tṛ khác nhau khả dĩ để xây dựng nhiệm thể Chúa Kitô (1 Cr 12:12-34). Công đồng Vaticanô II trong Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân, kêu gọi người giáo dân làm việc tông đồ nơi gia đ́nh, trong xă hội, trên b́nh diện quốc gia và quốc tế qua việc tông đồ cá nhân, việc tông đồ tập thể. Công Đồng ghi nhận: Người giáo dân có rất nhiều cơ hội làm việc tông đồ: rao giảng Phúc âm và thánh hoá. Chính chứng tá của đời sống Kitô và những việc lành được làm với tinh thần siêu nhiên có sức lôi kéo người ta đến đức tin và đến với Thiên Chúa (TĐGD # 6).

Như vậy có ơn gọi nọ giá trị và cao qui hơn ơn gọi kia chăng? Cổ nhân thường nói: Tu là cơi phúc, t́nh là giây oan. Tuy nhiên tu mà không trọn kiếp th́ cũng không hẳn là có hạnh phúc. Điều quan trọng là mỗi người sống ơn gọi của ḿnh, t́m cách phát triển và hoàn thành ơn gọi. Trong một vở kịch mà tài tử chính diễn dở th́ làm cho vở kịch kém giá trị. Trái lại người đóng vai phụ mà diễn hay, th́ cũng được khen thưởng.

Sống ơn gọi là một tiến tŕnh kéo dài suốt cả cuộc sống. Ngày chịu chức linh mục không phải là dừng bước làm linh mục. Ngày chịu chức linh mục mới chỉ là bước khởi đầu cho đời sống linh mục. Đời sống hôn nhân cũng vậy. Hôn nhân không dừng lại trong ngày đám cưới, trong tuần trăng mật. T́nh yêu và đời sống hôn nhân phải được nuôi dưỡng và phát triển từ ngày này qua ngày khác, từ năm nọ qua năm kia. Ơn gọi làm người Kitô hữu cũng không dừng lại khi lănh nhận Bí tích Thanh tẩy hay Bí tích Thêm sức. Chứng chỉ rửa tội không phải là giấy thông hành để vào nước Trời, nếu người ta không sống và thực hành lời Chúa và không giữ giới răn Chúa. Mỗi người tín hữu cần tiếp tục học hỏi về đạo giáo và đường lối Phúc âm hầu làm tăng triển mối liên hệ với Chúa, sống đức tin và làm đổi mới đức tin.

Đó là tíến tŕnh của việc làm môn đệ. Mỗi người Kitô hữu đă chịu Phép Thanh tẩy gồm cả linh mục, nam nữ tu sĩ đều được gọi để làm môn đệ Chúa. Việc người tín hữu đáp lại tíếng Chúa mời gọi không phải là một lần. Mỗi ngày đ̣i ta làm mới lại việc đáp trả. C̣n việc chấp nhận hay không là tùy thuộc vào mỗi người. Bản tính loài người là yếu đuối, nhưng khi Chúa mời gọi ta làm việc nọ chuyện kia, Người ban đủ ơn để ta thi hành công việc.

Lời Chúa mời gọi không phải là tiếng gọi một chiều, nhưng bao hàm việc đáp trả và cộng tác với ơn Chúa. Ân huệ và quyền năng của Chúa tuỳ thuộc vào việc mở rộng tâm hồn và cộng tác của mỗi người.

Lời cầu nguyện: xin cho được đáp trả và sống ơn gọi mỗi ngày: Lậy Chúa! Chuá hằng kêu gọi mỗi người đến những vai tṛ và phận vụ khác nhauđể phụng sự Chúa và phục vụ đồng loại. Xin cho những người đứng giữa ngă ba đường không biết phải theo đường nào được nhận ra đường Chúa muốn họ đi để họ có thể đáp trả và theo đuổi. Và xin ban ơn để con hoàn thành ơn gọi. Amen.

 

42. Hăy đến mà xem

(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT)

Angele Laly viết: "... Để mời gọi, Chúa Giêsu hầu như không nói. Người chỉ trả lời cho một sự khát vọng và một câu hỏi: “Thầy ở đâu?”. Người mời gọi vào trong thân t́nh của Người, vào trong nhà Người, những ai muốn biết Người ở đâu: “Hăy đến rồi sẽ thấy”. Giới thiệu Đức Giêsu cho người khác, cho anh em là bổn phận và trách nhiệm của tất cả Kitô hữu trên trái đất này? Nếu Đức Giêsu không được nhiều người nhận biết và tin bởi v́ ít người nói, loan báo về Ngài. Bởi vậy, việc loan báo và giới thiệu Đức Giêsu cho anh em là việc làm khẩn thiết và quan trọng đối với người môn đệ của Chúa. Tin Mừng Chúa Nhật II thường niên, năm B, nhắn nhủ mọi người nên bắt chước Anrê chia sẻ với người khác niềm tin của ḿnh vào Chúa Giêsu.

Đọc Tin Mừng của thánh Gioan, chúng ta không khỏi ngạc nhiên và hết sức khâm phục Anrê, vị tông đồ luôn giới thiệu Đức Giêsu cho người khác. Đoạn Tin Mừng của thánh Gioan hôm nay cho thấy Anrê đă gặp Đức Giêsu: "Chúng tôi đă gặp Đấng Mêsia” (Ga 1, 41), rồi Anrê liền giới thiệu em ḿnh là Phêrô cho Chúa Giêsu. Anrê đă trở nên quen thuộc và được nhiều người biết đến vai tṛ của ḿnh, khi dân chúng đi theo Chúa Giêsu để nghe Ngài giảng dạy và v́ chiều, dân quá đông, các môn đệ đề nghị với Chúa Giêsu giải tán đám đông, để họ tự đi t́m thức ăn, nhưng Chúa Giêsu đă bảo các môn đệ: “Các con hăy cho họ ăn”. Thế rồi Anrê đă t́m được một cậu bé có “năm chiếc bánh và hai con cá“, Anrê liền đưa cậu bé giới thiệu với Chúa Giêsu. Qua việc giới thiệu cậu bé này, với sự cộng tác của bàn tay con người hay nói đúng hơn, có vật chất: có bánh, có cá. Chúa Giêsu sau khi đă cầu nguyện tạ ơn Thiên Chúa Cha, Ngài đă biến bữa ăn trưa của cậu bé trở thành bữa tiệc tập thể nuôi sống hơn năm ngàn người.Lần cuối cùng khi Chúa Giêsu trở lại Giêrusalem, có mấy người Hy Lạp đến xin gặp Ngài. Anrê là người đă giới thiệu họ với Chúa Giêsu. Chắc chắn Chúa Giêsu đă rất hài ḷng về Anrê, bởi v́ sau đó chính Ngài đă nói: “phần Ta, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ khéo mọi người lên với Ta” (Ga 12,32).

Xem như thế, chúng ta thấy vai tṛ của Anrê thật quan trọng và đáng được ghi nhận để bắt chước Anrê v́ nếu Anrê không giới thiệu em ḿnh là Simon Phêrô cho Chúa Giêsu, Giáo Hội làm ǵ có một Phêrô là thủ lănh được Chúa tin tưởng, yêu thương đặt lên coi sóc Giáo Hội của Ngài: “Hăy chăm sóc chiên con, chiên mẹ của Ta“. Và nếu không có Anrê giới thiệu cậu bé có “năm chiếc bánh ḿ nhỏ và hai con cá“, làm sao có một phép lạ đẹp và hoành tráng như phép lạ Chúa Giêsu đă làm để nuôi sống một đám đông người như thế.

Anrê đă giới thiệu nhiều người đến gặp Đức Giêsu. Do đó, Tin Mừng của thánh Gioan 1, 35-42 mời gọi mọi Kitô hữu hăy xét lại thái độ, cử chỉ và hành động của ḿnh cách cụ thể hơn: tại sao Kitô hữu lại chưa muốn chia sẻ đức tin của ḿnh cho người khác? tại sao Kitô hữu lại chưa mau mắn giới thiệu Chúa Giêsu cho người xung quanh, cho bạn bè và cho nhiều người khác? Quả thực, nếu người môn đệ của Chúa đă t́m gặp Tin Mừng, đă nhận ra Tin Mừng là chính Đức Giêsu th́ tại sao họ lại chậm chạp, chứ chưa chóng vánh chia sẻ niềm vui, chia sẻ đức tin cho bạn bè, những người quen biết và nhiều người ḿnh chưa quen biết? Đây là vấn nạn quan trọng được đặt ra và mỗi người phải tự ḿnh trả lời trước lương tâm, trước mặt Chúa về câu hỏi này, không ai có thể trả lời giúp họ được vấn nạn này. Mọi người đang nh́n vào cách thể hiện đức tin của người môn đệ Chúa và sự chia sẻ đức tin của họ cho người khác là điều rất quan trọng và hết sức hệ trọng. Bài Tin Mừng này là bài học cho mọi Kitô hữu hăy bắt chước việc làm của vị tông đồ Anrê: “giới thiệu Chúa Giêsu và chia sẻ đức tin cho người khác“.

Xung Quanh chúng ta c̣n biết bao người chưa biết Chúa và c̣n biết bao người chưa được nghe nói tới Tin Mừng. Chính v́ thế, thái độ và việc làm của chúng ta là phải làm chứng cho Chúa Giêsu như Anrê, như các tông đồ xưa và nhiều người khác đă làm. Được phục vụ cho anh chị em lương dân và những anh chị em Dân tộc thiểu số, tôi vẫn cảm nghiệm được việc làm chứng cho Chúa bằng đời sống là cần thiết và việc loan báo Tin Mừng, rao giảng Đức Giêsu là tối ư quan trọng. Bởi, nếu không rao giảng, không chia sẻ đức tin ḿnh có được th́ anh chị em lương dân hay anh chị em Dân tộc sẽ không thể nào nhận ra Chúa Giêsu.

Xin mượn lời của Ange Laly để kết thúc bài chia sẻ hôm nay: “Sống dưới cái nh́n của Chúa Giêsu, chia sẻ sự thân t́nh của Người, sẽ đem đến cho ta niềm vui, để lại đến lượt chúng ta là những kẻ mời gọi. Nhưng chúng ta có dám nói với những ai đi t́m: “Hăy đến rồi sẽ thấy! “. Thiên Chúa, cách khiêm tốn, muốn tự mặc khải ngang qua cuộc đời chúng ta và ngang qua các cộng đoàn chúng ta. Đó có phải là những dấu chỉ của Thiên Chúa không? Những đối thoại của chúng ta sẽ có được sự dồi dào phong phú, nếu mọi người đều muốn sống dưới cái nh́n của Thiên Chúa và sống trung thành với Lời của Người”.

GỢI Ư ĐỂ CHIA SẺ:

1. Làm sao để có thể nhận biết và tin Chúa?

2. Anrê đă giới thiệu ai cho Chúa Giêsu?

3. Ai đă giới thiệu với Chúa Giêsu em bé có năm chiếc bánh và hai con cá?

4. Em bé đó là ai?

5. Phép lạ đ̣i hỏi ǵ nơi mỗi người chúng ta?

6. Chúa có c̣n làm phép lạ không? Phép lạ lớn nhất mỗi người chúng ta đang lănh nhận là phép lạ nào?

 

43. Môn đệ Chúa Giêsu

(Suy niệm của Lm Bênađô Nguyễn Tiến Huân)

Ngay ngày hôm sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa của Gioan ở sông Giođan (Ga 1,35) Chúa Giêsu bắt đầu tuyển chọn những môn đệ đầu tiên như chúng ta đọc trong bài Phúc Âm hôm nay. Đang đứng với hai môn đệ ḿnh, Gioan thấy Chúa Giêsu đi ngang qua th́ nói với họ: "Đó là Chiên Thiên Chúa". Hai môn đệ ấy là Anrê, người khác nữa th́ thánh Gioan không nói nhưng dựa theo Nhất Lăm (Mt 4,18; Lc 5,10-11; Mc 1,16 và Ga 1,42), chúng ta biết môn đệ đó là Simon (Phêrô) đă bỏ Gioan Tiền Hô mà đi theo Chúa (Ga 1,37). Gioan không ngăn cản cũng không hỏi tại sao lại bỏ đi. Điều đó chứng tỏ Gioan rất bằng ḷng và c̣n muốn cho các môn đệ ḿnh đi theo Chúa Giêsu. Đúng như cương vị của một tiền hô, Gioan muốn giới thiệu cho mọi người t́m tới Chúa Giêsu chứ không giữ họ lại cho ḿnh như người đă nói: "Ngài cần phải được lớn lên, c̣n tôi th́ phải nhỏ bé đi" (Ga 3,30). Khi ở trong ngục Gioan vẫn sai các môn đệ đến để được Chúa Giêsu dạy dỗ. Và Chúa đă khen Gioan là người lớn nhất trong Cựu Ước (Mt 11,2-11).

Lời Gioan giới thiệu Chúa Giêsu: "Đây là Chiên Thiên Chúa". Đó là h́nh ảnh chỉ về Chúa Giêsu trong vai tṛ tế lễ và đền tội như tiên tri Isaia đă báo trước về Ngài rằng: "Bị tra tấn, Ngài đă chịu đựng và không mở miệng như con chiên bị đem đi giết" (Is 53,7). Khi đi theo Chúa Giêsu các môn đệ này chỉ hỏi Ngài một câu rằng: "Thầy ở đâu?" (Ga 1,3-8). Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp mà chỉ nói: "Hăy đến mà xem". Họ đă tới và ở lại với Ngài luôn (Ga 1,39).

Để làm môn đệ Chúa, tất cả mười hai vị cũng đă bỏ hết mọi sự kể cả cha, mẹ, vợ con và tức khắc đi theo Chúa, để Chúa ở đâu, đi đâu, th́ cũng ở đó, đi đó: "Có sướng cùng hưởng có họa cùng chịu". Đó chính là tinh thần của kẻ theo Chúa và cũng là điều kiện Chúa đ̣i buộc: "Ai muốn theo Ta th́ phải bỏ ḿnh vác Thánh giá mà theo Ta" (Mc 8,34). "Kẻ nào đến với Ta mà không từ bỏ cha mẹ anh chị em và cả mạng sống ḿnh nữa th́ không thể làm môn đệ Ta" (Lc 14,26). Có họa cùng chịu nhưng cũng sẽ có sung sướng cùng hưởng: "Phàm ai bỏ cha mẹ vợ con ruộng vườn v́ Ta th́ sẽ lại được gấp trăm" (Mt 19,29). Và "khi con người được vinh hiển th́ sẽ được ngồi trên mười hai ngai vinh hiển mà xét xử 12 chi tộc Israel" (Mt 19,28). Muốn theo Chúa mỗi người chúng ta cũng phải làm như vậy mà tất cả mọi người chúng ta đều là môn đệ Chúa đă chọn để chu toàn những sứ mệnh riêng trong đấng bậc của mỗi người chúng ta.

Lạy Chúa, tuần này con sẽ nh́n lại sứ mạng làm tông đồ Chúa đă trao phó cho con và quyết thực hiện những điều kiện Chúa đ̣i hỏi.

 

44. Ơn gọi - Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Thiên Chúa luôn có cách, có phương thế, có những nẻo đường để mời gọi con người đi theo Ngài. Tin Mừng mà Ngài giới thiệu chính là Con Một Chí Ai của Ngài là Đức Giêsu Kitô. Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và các môn đệ đầu tiên được Tin Mừng giới thiệu hôm nay muốn gợi lên cho nhân loại ư tưởng ấy.

Gioan Tẩy giả đă gặp gỡ Chúa, Ông không chỉ giữ cho riêng ḿnh mà giới thiệu Chúa Giêsu cho các môn đệ của ḿnh. Các môn đệ của Gioan Tẩy giả đă tới t́m gặp Chúa và ở lại với Chúa suốt ngày hôm ấy. Anrê là một người trong nhóm môn đệ đă gặp Chúa và về đưa em của ḿnh là Simon đến gặp Chúa. Xem ra những cuộc gặp gỡ của những những người được Chúa để ư cũng tương tợ như vậy. Trở về cựu ước ta sẽ thấy những ơn gọi đặc biệt và lạ lùng.

Samuel trong đền thờ đang đêm nghe tiếng Chúa gọi. Lần thứ ba Ông đă thưa với Chúa:" Lạy Chúa, xin hăy nói, v́ tôi tớ Chúa đang nghe".

Môsê gặp gỡ Chúa trong bụi gai rực đỏ. Đavít, chàng chăn chiên nhỏ bé, có mái tóc hoe hoe vàng được Chúa tuyển chọn. Nhiều ngôn sứ đáp lại tiếng Chúa gọi mời.

Những cuộc gặp gỡ trong Tin Mừng đều na ná xẩy ra tương tự: một người gặp được Chúa, họ nong nả giới thiệu Chúa cho người khác. Các môn đệ đều được Chúa kêu mời trong những hoàn cảnh cụ thể: có người đang ngồi ở bàn thu thuế, có người đang ở dưới gốc cây vả, có người đang giặt lưới hoặc đang vá lưới với cha ḿnh trên băi biển vv...

Mỗi cuộc gặp gỡ trong cuộc sống là một dịp nhận ra Tin Mừng, mỗi dấu chỉ trong cuộc đời là lời mời gọi gặp gỡ Chúa. Chúa là Tin Mừng, gặp gỡ, t́m ra được Tin Mừng là nhận ra Chúa đang hiện diện giữa ḍng đời, giữa cuộc sống.

Mẹ Têrêsa Calcutta đă t́m và nhận ra Chúa nơi những con người nghèo, nơi những người vất vưởng, hấp hối. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, mỗi lần tiếp xúc với giới trẻ là đem Chúa cho họ và họ nhận ra Ngài là hiện thân của Chúa Giêsu. Thi sĩ Paul Claudel nhận ra tiếng Chúa trong tiếng chuông ngân của giáo đường. Charles Foucauld đă nhận ra Chúa trong những giờ tĩnh lặng. Phanxicô khó nghèo đă nhận ra Chúa nơi vẻ đẹp của muôn loài muôn vật vv và vv. Mỗi người đều có những cảm nghiệm về ơn gọi và gặp gỡ Chúa.

Ngày nay nhiều nước rất hiếm ơn gọi. Sở dĩ ơn gọi bị khủng hoảng v́ con người chạy theo những khoa học, những văn minh, vật chất vượt quá sức tưởng tượng của con người. Họ vẽ ra khuôn mặt của Chúa Giêsu bị méo mó. Họ tự nghĩ ra Chúa Giêsu hơn là chính khuôn mẫu Ngài đă hiện diện, đă có. Một nhà Kinh Thánh đă viết: " Đức Giêsu loan báo nước trời nhưng Giáo Hội đă đến"( Loisy ).

T́m gặp Đức Giêsu phải như mẫu mực của hai môn đệ tiên khởi. Người ta không thể gặp được Chúa trong sự xa hoa, tráng lệ và không phù hợp với nước trời. Một Giáo Hội nghèo với những con người chân thành, đơn sơ, chất phác, đó là Hội Thánh của Chúa Giêsu. Cuộc sống của con người chứa đựng biết bao chặng đường, nẻo đi, nơi đến của sự hiện của Chúa và lời mời gọi của Chúa Giêsu. Con người có niềm tin luôn sẵn sàng, chóng vánh và tỉnh thức để nhận ra Chúa Giêsu đang hiện diện, đang có mặt trong mọi trạng huống của cuộc đời. Chúa Giêsu trên thập giá là sự hiện diện tột đỉnh và mầu nhiệm nhất nói lên sự có mặt của Chúa giữa trần gian để cứu độ gian trần.

Tin Mừng là Đức Kitô luôn là niềm vui, sự hạnh phúc mà con người có ḷng tin đang lần ṃ t́m kiếm và đ̣i được chia sẻ, đ̣i được cảm thông. Tin Mừng luôn thúc bách con người cần phải được loan báo. Con người chỉ có thể sống Tin Mừng khi Tin Mừng được loan báo. Cuộc sống chứng nhân là lời loan báo mănh liệt nhất và ư nghĩa nhất để rao truyền và giới thiệu Chúa Kitô cho người khác. Ơn gọi và tiếng gọi của Chúa vẫn vang lên. Nhưng thử hỏi con người có sống ơn gọi và nhận ra tiếng gọi của Chúa đang thôi thúc con người hay không ?

Lạy Chúa Giêsu, xin cho mỗi người chúng con luôn mau mắn nhận ra tiếng Chúa trong cuộc sống của chúng con.

 

45. Chúa Nhật 2 Thường Niên

Con người là một hữu thể luôn khao khát hạnh phúc. Là con người bất toàn nhưng luôn hướng về Đấng vĩnh cửu. Hai môn đệ của Gioan đang khát khao Đấng hạnh phúc vĩnh cửu. Họ đă gặp được Đấng vĩnh cửu là Đức Kitô và đă sống hoàn toàn cho Ngài.

Anrê và Gioan đi t́m và gặp được Đức Kitô. Cuộc sống có những điều thú vị của nó nhưng nó không làm Anrê và Gioan thoả măn. Ḷng hai ông luôn mang trong ḿnh niềm khát khao một điều cao quư hơn, khát khao điều ǵ đó tốt đẹp hơn, khát khao một điều ǵ đó bền vững hơn. Điều này thúc bách hai ông luôn ấp ủ một cuộc đổi đời, nó thôi thúc hai ông không dậm chân tại chỗ mà luôn "thao thức t́m kiếm" Đấng vĩnh cửu hạnh phúc. Sống trong tâm trạng đó nên khi nghe Thầy Gioan giới thiệu: "Đây Chiên Thiên Chúa" th́ hai ông đă tức khắc đi theo Đức Giêsu. Đây là cơ hội ngàn năm có một. Hai ông không muốn bỏ lỡ cơ hội này. Hai ông mạnh dạn bước tới "Chiên Thiên Chúa". Hai ông không chần chừ, không tra hỏi Thầy điều ǵ thêm nữa, cũng không cần phải tính toán, không cần phải suy nghĩ thêm. Hai ông đă nhanh chóng và mạnh dạn đến với Đấng mà Thầy ḿnh giới thiệu. Hai ông đă gặp được Đức Kitô.

Phần ḿnh, Chúa Giêsu trả lời: "hăy đến mà xem". Ngài không giới thiệu địa chỉ, nơi chốn nhưng Ngài nói: "hăy đến mà xem". "Hăy đến mà xem" là lời mời gọi bước đi. Chúng ta là môn đệ nên hăy bỏ lại chỗ cũ, hăy bỏ lại con người cũ, hăy mặc lấy con người mới. Chúng ta hăy đến với Ngài bằng con người mới, đi trên hành tŕnh mới, hành tŕnh của sự từ bỏ, hy sinh và yêu thương. Chúng ta hăy đến mà xem t́nh yêu của Thiên Chúa biểu lộ cho con người nơi Chúa Giêsu Kitô. Khi gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô là chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa t́nh thương: "Ai thấy Thầy là thấy Đấng đă sai Thầy". Khi gặp gỡ và "lưu lại" với Ngài, chúng ta học biết được kinh nghiệm về một t́nh yêu, t́nh yêu vĩnh cửu, về hạnh phúc trường tồn. Thật đúng như vậy hai ông Anrê và Gioan đă kinh nghiệm được điều ấy nên đă lưu lại với Chúa, lưu lại trong t́nh yêu của Ngài. T́nh yêu làm cho hai ông trở nên gần gũi với Thầy và sự gần gũi làm gia tăng t́nh yêu. Hai ông đă đến với Chúa Giêsu, họ đă "lưu lại với Người", nhờ đó hai ông đă nhận ra Người là "Đấng Kitô". Như thế, có thể nói, nếu chúng ta có thao thức, chúng ta ước muốn t́m hạnh phúc là điều kiện đầu tiên tuy nhiên chúng ta cần phải bước đi. Chúng ta hăy bước đi bằng cách chấp nhận từ bỏ, chấp nhận hy sinh, từ bỏ những ǵ là cũ, từ bỏ những ǵ không phù hợp, nó đang gây cản trở cho hành tŕnh ta gặp Chúa. Chúng ta phải hết ḷng cộng tác với ơn Chúa, bước đi trong đường lối và giới răn của Thiên Chúa th́ ta mới đạt kết quả tốt đẹp như Đấng đang thúc bách mời gọi. Nói một cách khác, hành tŕnh đón nhận đức tin của chúng ta là sẵn ḷng đón nhận chân lư mạc khải của Thiên Chúa và nỗ lực đáp trả tức khắc và liên lĩ lời mời gọi sống cho Đức Kitô.

Gặp gỡ được Đức Kitô, chúng ta sẽ có cơ hội đối thoại với Ngài. Chúng ta có chân thành mở rộng cơi ḷng, chúng ta có thiện chí đáp trả th́ chúng ta sẽ được nghe Ngài ngỏ lời, chỉ dạy giống như Anrê và Gioan đă được đối thoại với Chúa. Các ông đă nghe Chúa Giêsu hỏi: "các anh đi t́m ǵ?". "Các anh đi t́m ǵ?", đây quả thật là câu hỏi không tầm thường, một câu hỏi cho hai ông mà cũng là câu hỏi chất vấn đặt lại vấn đề cho những ai theo Chúa, cho những ai muốn làm môn đệ của Ngài. Câu hỏi như một tiếng thức tỉnh lại tâm hồn ḿnh, thức tỉnh cho những ai đang khao khát, thức tỉnh ư muốn của mọi người. Do đó, câu trả lời không phải bằng trí tuệ mà là bằng con tim, câu trả lời bằng tất cả tấm ḷng yêu mến, yêu mến vào chính Đấng khơi nguồn khao khát. Đấng ấy chính là niềm hạnh phúc thật sự và vững bền măi măi. V́ thế hai ông trả lời bằng một câu hỏi: "Thưa Thầy, Thầy ở đâu?". Câu trả lời đơn sơ nhưng ẩn chứa tấm ḷng khao khát gặp Chúa, mến yêu Ngài hết ḷng, biểu lộ ḷng tŕu mến muốn gắn bó với Ngài, muốn dấn bước theo Ngài và muốn chia sẻ cuộc sống với Ngài.

Gặp gỡ được Đức Kitô thật là thú vị! Chúa Giêsu Kitô gặp gỡ các ông và đă biến đổi các ông. Chính Đấng Messia đă chiếm được cảm t́nh, giúp các ông xác tín đức tin và củng cố niềm hy vọng cho các ông. Kể từ đây, các ông sẽ ở lại với Ngài, sẽ cùng sống, cùng bước theo Ngài và trở nên giống Ngài. Chính t́nh yêu và niềm tin vào Chúa Giêsu hướng người môn đệ sống và làm cho cuộc đời ḿnh mang ư nghĩa mới.

Khi đă kinh nghiệm t́nh yêu của Chúa, Anrê tự cảm thấy được thúc bách phải chia sẻ niềm tin cho Phêrô. Anrê đă giới thiệu với Phêrô: " chúng tôi đă gặp Đức Kitô". Không dừng lại ở đó, Anrê đă dẫn Phêrô đến gặp Chúa Giêsu. Anrê đă sung sướng gặp được Chúa, ông đă khám phá ra Chúa Giêsu chính là Đấng Messia mà ông mong chờ, Đấng mà muôn dân trông đợi và các tiên tri đă loan báo. Chắc chắn Anrê sẽ ở lại với Ngài nhiều hơn nữa, lâu hơn nữa để thêm t́m hiểu và khám phá mới nơi Đấng Messia nay. Nhưng giờ đây Anrê cùng chia sẻ, cùng khám với với Phêrô. Niềm vui và ḷng mến của ông sẽ được củng cố, tăng thêm và càng lớn lên hơn nữa.

Là Kitô hữu, chúng ta đă gặp Chúa. Chúng ta đă gặp Ngài nơi tha nhân, nơi các biến cố trong cuộc sống. Chúng ta đă gặp Ngài nơi Thánh Lễ và các Bí tích, nơi kinh nguyện và các việc đạo đức. Đặc biệt chúng ta đă gặp gỡ một Thiên Chúa t́nh thương từ trời cao đến với chúng ta nơi Bí tích Thánh Thể. Nơi Thánh Thể, Chúa Giêsu Kitô muốn đối thoại, đồng hành, chia sẻ cuộc sống dương thế với chúng ta. Hơn nữa, Chúa Giêsu Kitô giúp chúng ta ở lại với Ngài và Ngài giúp chúng ta thêm yêu mến và bền ḷng bước theo Ngài, đi về cơi hạnh phúc thật, cơi hạnh phúc đời đời trong vương quốc t́nh yêu của Ngài. Ngài là t́nh yêu. Chúng ta như đang rơi vào biển t́nh yêu bao la của Ngài.T́nh yêu giúp ta hướng gặp gỡ Ngài và củng cố t́nh yêu của chúng ta đối với tha nhân. T́nh yêu Chúa Giêsu Kitô giúp chúng ta loại bỏ ích kỷ và thúc đẩy chúng ta chia sẻ t́nh yêu cho tha nhân, sẵn sàng dấn thân cho t́nh yêu và ơn cứu độ của Thiên Chúa. Khi được chất vấn về đức tin, chúng ta không do dự mà mạnh dạn chia sẻ đức tin của ḿnh cho người khác. Chúng ta hăy bắt chước Thánh Phaolô chia sẻ đức tin của ḿnh với tín hữu Côrintô, Gioan Tẩy Giả chia sẻ đức tin với hai môn đệ của ḿnh và Anrê chia sẻ đức tin vào Chúa Giêsu với Phêrô...Tha nhân đang chú tâm vào đức tin của chúng ta, và sự chia sẻ đức tin của chúng ta đóng vai tṛ cực kỳ quan trọng.

Khi xưa Chúa Giêsu đă mời hai môn đệ: "Hăy đến mà xem", th́ hôm nay Ngài cũng mời gọi chúng ta không chỉ "đến mà xem" và c̣n "ở lại với Người" để trở nên môn đệ của Người, và để người ban cho dồi dào ơn phúc cho.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết khát khao Chúa, muốn đi theo Chúa để làm môn đệ, để làm chứng nhân cho Chúa. Bởi v́ Chúa chính là lẽ sống, là hạnh phúc và niềm hy vọng của chúng con. Amen.

 

46. Đến và ở lại – Anmai

Thử hỏi ai trong chúng ta là người không biết yêu? Và khi yêu nhau, tâm trạng của t́nh yêu nó làm sao đó và chẳng ai có thể diễn tả được. Chỉ có những tâm hồn đang yêu mới diễn tả và mới hiểu được t́nh yêu là ǵ.

Đơn giản, đứa trẻ, nh́n vào đứa trẻ chúng ta sẽ thấy lộ ra t́nh yêu của chúng với cha mẹ chúng là như thế nào. Chúng h́nh như không muốn xa ĺa cha mẹ chúng chút nào cả. Bằng chứng tôi thấy rơ nhất là ở gia đ́nh, có hai đứa cháu trai năm nay đứa học lớp 10, đứa học lớp 5. Hai đứa cháu này không bao giờ chịu rời xa cha mẹ chúng cả. Dù nghe người khác bảo là dẫn đi Siêu Thị hay đi mua đồ chơi, mua thức ăn cho chúng là những điều chúng thích nhưng chẳng bao giờ dụ chúng được. Có lẽ một phần do bản tính nhưng căn cốt đó là v́ yêu cha yêu mẹ chúng, chúng sợ xa cha xa mẹ nên chẳng chịu rời xa cha mẹ. Yêu là như vậy đó.

Hay là như chúng ta, hơn một lần chúng ta tiễn biệt người thân chúng ta như ông, như bà, như cha, như mẹ. Ít nhiều ǵ đó, chúng ta cảm thấy cái giây phút hạ huyệt, cái giây phút đưa vào ḷ thiêu nó đau đớn đến mức nào. Có những người khóc ngất, có những người xỉu v́ xa cha, xa mẹ, xa ông, xa bà của ḿnh. Tại sao khóc? Chẳng cần suy nghĩ, ta có thể trả lời ngay là v́ yêu. Yêu nên sợ xa, sợ mất người mà ḿnh yêu.

Nh́n vào t́nh yêu đôi lứa chúng ta sẽ thấy rơ nét nhất về sự xa cách này. Khi v́ hoàn cảnh chưa đến được với nhau, chưa được ở gần nhau th́ cái ḷng nó nao nao làm sao đó. H́nh như lúc nào anh chị cũng muốn được ở gần nhau, được ở bên nhau hết. Có những lúc đi xa th́ chỉ tổ làm giàu cho các mạng di động thôi v́ lúc nào cũng liên lạc cả. Không được ở gần nhau v́ hoàn cảnh nào đó th́ cũng mong được nghe tiếng của nhau. V́ sao vậy? Vô duyên quá chăng? Không! Đó là v́ yêu, yêu nên người ta mới mong mỏi được ở gần nhau, ở bên nhau.

Tất cả những h́nh ảnh đơn sơ ấy biểu lộ t́nh yêu giữa con cái với ông bà cha mẹ, giữa hai người yêu nhau. Phải nh́n nhận thẳng với nhau rằng, trước khi yêu ta tin cái người ta yêu. Thử hỏi đứa trẻ xem, nó tin ai nhất? Chắc chắn nó tin cha mẹ nó nhất trên đời nên nó mới yêu. Thử hỏi không tin xem nó có dám yêu chăng?

Hai anh chị cũng thế! Dù không nói ra, dù không cân - đo - đong - đếm được nhưng h́nh như tự hai người nó phát ra cái tín hiệu rất là lạ đó là tin nhau. Tin nhau rồi họ mới t́m đến nhau và mới yêu. Thật sự mà nói, chẳng ai dám đi yêu cái người mà ḿnh không tin cả. Từ tin bắt đầu đến yêu. Yêu nhau nên muốn ở lại bên nhau là chuyện b́nh thường thôi. Nếu yêu mà không tin nhau đó là t́nh yêu bất thường, t́nh yêu dị dạng và t́nh yêu móp méo.

H́nh ảnh tin, yêu và ở lại bên nhau được Thánh Gioan nói cho chúng ta qua trang Tin mừng mà chúng ta vừa nghe. Gioan thuật lại rằng có hai môn đệ đang đứng với ông, thấy Đức Giêsu đi ngang và Gioan giới thiệu ngay: "Đây là Chiên Thiên Chúa". Sau khi nghe giới thiệu Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa, lập tức hai môn đệ đi ngay. Tại sao đi ngay? V́ lẽ là môn đệ Gioan, tin Gioan nên mới đến với Chúa Giêsu và ở lại với Chúa Giêsu. Không đơn giản như Thánh Gioan thuật lại, muốn đến và ở lại như vậy chắc có lẽ phải qua một thời gian, một giai đoạn t́m hiểu và rồi tin và rồi yêu như những người trẻ đến với nhau vậy. Và muốn có được kết qủa như ngày hôm nay của hai môn đệ ông Gioan là do hai môn đệ ấy đă lắng nghe ông Gioan nói về Chúa Giêsu trong thời gian hai ông ở với Gioan. Phải lắng nghe hai ông ấy mới biết Chúa Giêsu là ai để rồi mới ngong ngóng t́m Chúa và hôm nay mới gặp được Chúa và theo Chúa, ở với Chúa.

Muốn biết về ai, muốn tin vào ai và muốn yêu người ấy th́ chuyện quan trọng nhất đó là lắng nghe. Khi ta không lắng nghe nói về người đó, nói với người đó th́ làm sao ta biết, ta tin và ta yêu được.

H́nh ảnh về sự lắng nghe, về tin, về yêu ấy được Samuael thuật lại trong trang sách của ông mà chúng ta cũng vừa được nghe.

Trong cơn ngủ đấy nhưng Samuel được nghe tiếng gọi, ông giật ḿnh đến hỏi thầy của ḿnh. Cả đến 3 lần, 3 lần ấy ông Êli đều xác nhận không phải là ông gọi nhưng chính Thiên Chúa gọi Samuel. Và Samuel lại tiếp tục trong cơn ngủ của ḿnh. Thiên Chúa lại đến với Samuel và thực thi theo lời thầy ḿnh dạy, Samuel đă thân thưa với Chúa: "Xin Ngài phán, v́ tôi tớ Ngài đang lắng tai nghe". Sau khi thân thưa, thỏ thẻ với Chúa về tâm t́nh, về thái độ của ḿnh th́ ơn của Thiên Chúa đến với ông như chúng ta nghe: "Samuel lớn lên, Đức Chúa ở với ông và Người không để cho một lời nào của Người ra vô hiệu". (1 Sm 3, 19)

Thật sự là thế, Samuel lớn lên trong ơn nghĩa của Chúa nhờ thái độ, nhờ tâm t́nh lắng nghe Chúa và rồi Chúa ở với ông. Chúa ở với ông đồng nghĩa là ông ở trong Chúa.

Chúng ta, nh́n lại ḿnh, chúng ta thấy buồn cười lắm! Chúng ta được nghe các thánh, các tông đồ và nhiều người nói về Chúa cho chúng ta nhưng tâm hồn của chúng ta nó cứ trơ trơ ra làm sao đó. Không chỉ các thánh, các tông đồ nhưng ngay bản thân chúng ta thôi, Thiên Chúa đă nhiều lần trực tiếp bằng những biến cố này biến cố khác trong cuộc đời Chúa nói với chúng ta đấy nhưng chuyện quan trọng là chúng ta có đủ kiên nhẫn, có đủ lắng đọng để nghe không?

Tạ ơn Chúa v́ ngày nay xă hội phát triển, thậm chí phát triển quá mức tưởng tượng. Tất cả những ǵ xă hội mang đến cho con người là con dao 2 lưỡi. Nó phục vụ rất tốt cho cuộc sống của con người nhưng ngược lại nó cũng làm cho con người ra hư hỏng. Nếu biết dùng th́ con người sẽ dùng những vật chất, những phát triển văn minh sẽ phục vụ con người nhưng không khéo nó sẽ làm hỏng con người. Nếu không cẩn thận, nếu không có chiều sâu tâm linh đậm đặc đủ con người sẽ măi chạy theo những đam mê, những cám dỗ của vật chất, của xác thịt, của danh vọng.

Những thú vui của danh vọng, địa vị, vật chất ấy đôi khi đă làm cho con người đánh mất cảm thức về Chúa, không c̣n thấy Chúa có chỗ đứng trong cuộc đời của ḿnh nữa. Sự thật thật bi đát, sự thật thật đau ḷng đó là dù cho giàu có, danh vọng, hưởng thụ đến mức nào đi chăng nữa nhưng không có Chúa cuộc đời nó cứ rỗng rỗng tuếch tuếch làm sao đó.

Chúng ta vẫn bị giằng co giữa những cái mong manh của cuộc đời và Chúa nên rồi chúng ta cứ quay quắt trong những cái mong manh ấy. V́ sao chúng ta bị quay quắt? V́ lẽ chúng ta đă ĺa xa Chúa, chúng ta đă không t́m Chúa, không đến, không lắng nghe lời Chúa như hai môn đệ của ông Gioan và Samuel.

Vâng! Tất cả rồi sẽ qua đi, tất cả rồi sẽ mất hết, c̣n lại duy chỉ ḿnh Chúa thôi. Xin Chúa cho chúng ta ghi nhớ rằng chỉ ḿnh Chúa là đủ cho cuộc đời chúng ta để rồi dù cuộc đời này có bao nhiêu ồn ào, bao nhiêu náo động chúng ta luôn lắng đọng tâm hồn để chúng ta đến bên Chúa, để ở lại với Chúa và để nghe lời Chúa. Khi Lời Chúa ngự vào tâm hồn chúng ta chúng ta sẽ t́m thấy sự b́nh an thật sự trong cuộc đời.

Anmai, CSsR

 

47. Chiến dịch Anrê – Lm. Mark Link

Chủ đề: "Chúng ta hăy nên bắt chước Anrê chia sẻ với người khác niềm tin của ḿnh vào Chúa Giêsu"

Cách đây mấy năm, có một ông lăo được nhận vào bệnh viện để điều trị bệnh. Sau khi ông cụ được dễ chịu, cô y tá hỏi ông lăo vài câu hỏi theo thông lệ, v́ cô phải điền vào một trong các giấy tờ thủ tục nhập bệnh viện. Một trong những câu cô hỏi ông lăo là: “Tôn giáo ông quí chuộng hơn cả là tôn giáo nào?”. Cụ già nh́n cô y tá và nói: “Tôi rất vui sướng được cô hỏi câu ấy, tôi luôn luôn muốn là một người công giáo, nhưng trước đây chưa có ai hỏi tôi như vậy. Chính cô là người đầu tiên hỏi tôi câu ấy”.

Câu chuyện có thực trên đặt cho chúng ta một vấn đề gây bối rối: Tại sao trong chúng ta có nhiều người do dự khi phải chia sẻ đức tin của ḿnh với kẻ khác? hoặc chúng ta có thể đặt lại câu hỏi này như sau: Nếu chúng ta tin rằng Phúc Âm thực sự là Tin Mừng, th́ tại sao chúng ta lại không chia sẻ nó với kẻ khác? hoặc nếu chúng ta tin Đức Giêsu là kho tàng vĩ đại nhất mà chúng ta có thể chiếm hữu được, th́ tại sao chúng ta không chia sẻ với người khác đức tin của ḿnh nơi Đức Kitô?

Điều này dẫn chúng ta đến với bài đọc ngày hôm nay. Bài đọc thứ nhất tường thuật việc Samuel chia sẻ niềm tin của ḿnh với chàng Eli. Bài đọc thứ hai thuật lại việc thánh Phaolô chia sẻ đức tin của ḿnh với tín hữu Côrintô. Và bài Phúc Âm tŕnh bày Gioan tẩy giả chia sẻ đức tin với hai môn đệ của ḿnh, và Andrê chia sẻ đức tin với anh em ḿnh là Phêrô.

Chúng ta hăy chú ư vào bài Phúc Âm và đặc biệt vào trường hợp Andrê. Sự kiện thánh Gioan nhắc đến Andrê những ba lần trong Phúc Âm của ngài quả thực mang đầy ư nghĩ. Lần nào Andrê cũng dẫn đến với Chúa Giêsu một người nào đó, lần nào ông cũng chia sẻ đức tin của ḿnh với kẻ khác, trong bài đọc hôm nay, Andrê dẫn Phêrô, anh ḿnh đến với Chúa Giêsu, mà Ngài đặt làm viên đá để xây dựng Giáo hội Ngài trên đó. Về sau, Andrê lại dẫn đến với Chúa Giêsu một em bé có 5 ổ bánh và hai con cá (Ga 6: 8) và Chúa Giêsu đă dùng bánh và cá này để thiết đăi đám đông đang đói một bữa no nê. Sau cùng, chính Andrê lại dẫn đến với Chúa Giêsu vài người Hy Lạp (Ga 12: 20-22), để rồi Chúa Giêsu thừa cơ hội này dạy cho dân chúng những điều trọng đại.

Từ đó, chúng ta trở lại câu hỏi ban đầu; Nếu quả thực chúng ta tin Đức Giêsu là kho báu to lớn nhất mà chúng ta có thể chiếm hữu được, th́ tại sao chúng ta lại không muốn chia sẻ kho tàng của chúng ta cho kẻ khác?

Câu trả lời mà chúng ta thừơng nghe là: người khác có thèm chú tâm đến Đức Giêsu đâu: câu trả lời rơ ràng cho câu hỏi trên là nhiều người nghĩ rằng ông lăo kia cũng chả chú tâm ǵ đến Chúa Giêsu. Có lẽ họ tự nghĩ; “Nếu ông lăo chú tâm đến Chúa Giêsu hoặc nếu lăo ta muốn trở thành một người Công giáo th́ lăo ta đă lo liệu được việc đó từ lâu rồi!”

Vài năm trước, một giáo viên trung học ở Chicago đă yêu cầu mỗi học viên trong lớp phỏng vấn ba người về vấn đề cầu nguyện. Các học viên phải đặt cho họ 5 câu hỏi:

- Anh (chị) có cầu nguyện không?

- Anh (chị) cầu nguyện hằng ngày hay chỉ thỉnh thoảng?

- Tai sao anh (chị) cầu nguyện?

- Khi cầu nguyện, anh (chị) cầu nguyện như thế nào?

- Ai đă dạy anh (chị) cầu nguyện?

Cuộc phỏng vấn của các học viên đem lại ba điều ngạc nhiên:

Thứ nhất, các học viên ngạc nhiên v́ không ngờ người ta lại sẵn ḷng bàn luận đến vấn đề cầu nguyện như thế.

Thứ hai, họ ngạc nhiên khi thấy có nhiều người cầu nguyện hằng ngày.

Và thứ ba, họ ngạc nhiên v́ có nhiều bạn bè thân thiết của ḿnh có cầu nguyện, thế mà trước đó họ chưa hề bao giờ bàn luận với nhau vấn đề ấy.

Một sinh viên nói về cuộc phỏng vấn:

“Tôi cứ tưởng các bạn tôi sẽ chế nhạo cuộc phỏng vấn, thế mà hoàn toàn khác hẳn, họ đă kính cẩn trả lời. Một trong các bạn tôi nói rằng anh thực vui mừng khi bàn về một điều thực sự có ư nghĩa như thế.

Một cô gái kết luận: “Điều tôi thu lượm được từ dự án phỏng vấn nói trên chính là:Người ta đă thực sự quan tâm đến vấn đề cầu nguyện”

Tất cả chúng ta đều đă đọc các bài viết trong các tạp chí bàn về cách thức trở nên một người nói chuyện có duyên hơn, hoặc bàn về việc trau dồi nhân cách bằng cách trau dồi nghệ thuật nói chuyện của ḿnh. Các bài ấy luôn luôn nhấn mạnh điều này; Chúng ta nên nói đến những ǵ thân thiết và quan trọng đối với chúng ta. Thế mà có ǵ thân thiết và quan trọng hơn là niềm tin vào Chúa Giêsu? Ai c̣n nghĩ rằng người ta chả quan tâm ǵ đến những việc này th́ nên ghi nhớ cuộc khảo sát của các sinh viên nêu trên. Người ta chẳng những ủng hộ cuộc khảo sát mà c̣n lấy làm hăng hái tham gia vào đó là khác.

Điều này khiến chúng ta đi đến một điểm quan trọng “chúng ta nên chia sẻ đức tin của chúng ta với kẻ khác”. Bất cứ ai nghĩ rằng điều này không quan trọng th́ người ấy nên ghi vào tâm trí câu chuyện về ông lăo nói trên. Giả như cô y tá chẳng hỏi ông về vấn đề tôn giáo th́ chắc hẳn ông đă qua đời trong t́nh trạng chưa thực hiện được giấc mơ trở thành một người công giáo.

Và bất cứ ai nghĩ rằng việc chia sẻ đức tin của ḿnh với kẻ khác là chả quan trọng th́ kẻ ấy nên ghi vào tâm trí bài Tin Mừng hôm nay. Giả như Andrê đă không chia sẻ đức tin với ông anh Phêrô th́ có lẽ chẳng bao giờ Phêrô trở nên tảng đá trên đó Chúa Giêsu xây dựng Giáo hội Ngài. Và giả như Andrê đă không chia sẻ đức tin của ḿnh với cậu bé có năm chiếc bánh và hai con cá th́ có lẽ đám đông trên đồi sẽ trở về nhà bụng đói meo và Phúc Âm có lẽ đă không có được một trong những câu chuyện hứng khởi nhất của toàn bộ Kinh Thánh rồi!

Để kết luận, bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta xem xét kỹ lưỡng lư do tại sao chúng ta c̣n miễn cưỡng không muốn chia sẻ đức tin của ḿnh với kẻ khác? Nếu chúng ta tin Phúc Âm là Tin Mừng và nếu chúng ta tin Đức Giêsu là kho báu to lớn nhất mà con người có thể chiếm hữu, th́ tại sao chúng ta lại miễn cưỡng không muốn chia sẻ đức tin của ḿnh với con cái chúng ta, với bạn bè chúng ta và với những ai mà ta biết đang t́m kiếm một niềm tin? đây là vấn nạn cực kỳ quan trọng mà Tin Mừng hôm nay đặt ra trước mỗi người trong chúng ta. Không ai có thể trả lời dùm chúng ta. Chúng ta phải tự ḿnh trả lời lấy, mỗi người tuỳ theo cách thức riêng của ḿnh. Và chúng ta bị bắt buộc phải trả lời câu hỏi ấy. Tha nhân đang chú tâm vào đức tin của chúng ta, và sự chia sẻ đức tin của chúng ta đóng vai tṛ cực kỳ quan trọng.

Chúng ta hăy kết thúc với lời khấn nguyện. Xin quí vị yên lặng hiệp ư cùng tôi.

“Lạy Chúa, xin dạy cho mỗi người trong chúng con biết rằng ngay ở đây, trên trái đất này, Chúa chỉ biết nhờ đôi bàn tay chúng con để giúp đỡ những người thiếu thốn, Chúa chỉ biết dùng trái tim chúng con để ôm ấp những kẻ cô đơn; Chúa chỉ nhờ giọng nói chúng con để chia sẻ sứ điệp loan báo cuộc sống, nỗi khổ đau và cái chết Chúa đă chịu v́ chúng con.

Lạy Chúa, xin hăy dạy chúng con biết rằng ở nơi đây, trên trái đất này, chúng con là đôi tay của Chúa, chúng con là tiếng nói của Chúa, và chúng con là trái tim của Chúa".

 

48. Lạy Thầy, Thầy ở đâu?

Anh chị em thân mến,

 Trong sách Các Vua quyển 2 có kể câu chuyện: Naaman, vị tướng chỉ huy quân đội của vua Aram, ông là người có tài, có uy tín trước mặt nhà vua; nhưng ông phải khổ sở v́ bệnh cùi. Một đầy tớ gái người Israel mà họ bắt được, đang phục dịch cho ông, cô nói: "Phải chi ông chủ gặp được vị tiên tri ở Samaria, vị này chắc sẽ chữa cho ông khỏi bệnh cùi." Naaman đă xin vua Aram giới thiệu cho ḿnh sang Israel, nhờ vị tiên tri (là Êlisêô) chữa bịnh. Naaman đă ra đi, tin theo lời giới thiệu của đầy tớ gái. Cuối cùng ông cũng đă được lành bệnh (sách Các Vua, q. 2, ch 5).

Hai môn đệ của thánh Gioan Tiền hô, đă tin lời giới thiệu của ông, nên đă đi theo Chúa Giêsu. Kết quả, nhờ ḷng tin đó, họ gặp được Đấng Cứu thế và đă trở nên môn đệ của Chúa. Đây chính là đề tài chúng ta suy niệm hôm nay...

 a/. Anh chị em thân mến, bài Tin mừng hôm nay có hai điều làm chúng ta suy nghỉ: một là lời giới thiệu của thánh Gioan cho 2 môn đệ ḿnh và thái độ của họ. Hai là mời gọi của Chúa Giêsu "hăy đến mà xem" và thái độ đón nhận của họ:

Gioan giới thiệu Chúa Giêsu cho hai môn đệ ḿnh: Đây là Chiên Thiên Chúa...Các ông nghe nói liền tin và đi theo Chúa Giêsu:

Trên đời này, người ta ai ai cũng muốn đi t́m cái hơn: muốn giàu có hơn, học giỏi hơn, có vợ có chồng sang hơn...Thật không may, con số nhiều người trên đời, chỉ biết đi t́m vật chất bằng mọi giá, ngay cả bằng thủ đoạn bất chính nữa. Xem ra chỉ có số ít là muốn đi t́m giá trị tinh thần cao cả hơn. Đó chính là các môn đệ của Chúa Giêsu. Hai môn đệ của thánh Gioan trong câu chuyện hôm nay đă cư xử như thế. Họ đă không ngần ngại bỏ thầy ḿnh để đi t́m chân lư. Thái độ bỏ thầy mà theo Chúa Giêsu, có thể đuợc coi như một hành động dứt khoát với quan niệm sai lạc về Đấng Mêsia xưa nay của người Do thái. Chính v́ lẻ đó, Chúa quay lại hỏi họ: Các ông t́m ǵ? Có nghĩa: Tại sao các ông không đi t́m các bậc thầy của Do thái, để học hỏi làm môn đệ? Tại sao và tại sao? Các ông lúc này cũng chưa hiểu Chúa bao nhiêu, nhưng v́ tin vào lời giới thiệu của thầy ḿnh là thánh Gioan, nên họ sẵn sàng đến với Chúa.

Chính hai môn đệ này là những người đă tin, nên đă lên đường trước, đến với Chúa Giêsu, nên đáng được Chúa thưởng công lớn lao: là cho họ trở nên những tông đồ tiên khởi.

Chúa nói với hai môn đệ: "Hăy đến mà xem!" Họ đă đến và ở lại với Chúa Giêsu ngày hôm đó:

Chúa Giêsu muốn hai môn đệ đầu tiên có kinh nghiệm về cuộc sống, về Lời giảng dạy của ḿnh, nên đă mời họ đến gặp gở Chúa. Chính các ông đă vui ḷng đáp lại lời mời gọi của Chúa. Phúc âm ghi rơ: "họ đă đến và ở lại với Chúa Giêsu ngày hôm đó." Ở lại với Chúa Giêsu, cùng một nhà với Chúa, những câu nói này cũng đồng nghĩa với việc muốn đuợc tham dự vào sự sống, vào nguồn hạnh phúc, muốn chia vui xẻ buồn với Chúa. Thực ra lúc này đây, các ông cũng không hiểu rơ lắm việc ḿnh làm; chỉ có một điều chắc chắn ta không bỏ qua được, đó là chính các ông đă tỏ ra rất tích cực, sẵn sàng cộng tác với Chúa, dù rằng các ông không biết sẽ làm ǵ và như thế nào. Chắc chắn chính v́ điểm này mà Chúa đă chọn các ông như lời Chúa nói: "Tôi sẽ làm cho các anh nên những kẻ lưới người."

Thánh Augustinô đă nói: 'Chúa dựng nên con, không cần có con; nhưng Chúa cứu chuộc con lại cần có con...Rơ ràng Chúa dựng nên ta không cần hỏi ư ta, nhưng khi cứu chuộc ta, Chúa lại muốn ta cộng tác vào; như thế con người mới thực sự tự do và lập nên công nghiệp trước mặt Thiên Chúa...

b/. Câu chuyện: Một cha xứ hỏi một nguời vợ công giáo trẻ (cô này theo đạo chồng): lư do nào mà cô theo đạo. Cô trả lời: Con là một phật tử, dù chỉ có danh mà thôi; nhưng con lại rất ghét đạo công giáo. Dĩ nhiên, từ nhỏ con không hiểu chút nào về đạo này. Khi lập gia đ́nh với chồng con là người công giáo, con v́ yêu anh lắm nên buộc ḷng phải giữ đạo, để được sống chung với anh. Chồng con không giàu có, nhưng anh có cuộc sống tốt, anh có đức tin mạnh mẻ làm mọi người quí mến. Với anh, đức tin là điều quan trọng hơn hết. Cũng chính v́ đó con thấy rằng: " hể yêu anh, con cũng phải yêu cả những ǵ chồng con có. Chồng con có đức tin mạnh mẻ, con cũng muốn có đức tin như chính chồng con vậy"

Câu chuyện của người vợ này thật đáng khen, y như câu ông bà ḿnh nói: "yêu nhau yêu cả lối đi." Người vợ này v́ yêu chồng, nên cũng yêu cả lối sống của chồng nữa. Điễm này quá giống với các môn đệ trong bài Tin mừng hôm nay...

c/. Gợi ư sống và chia sẻ:

Chúa Giêsu kêu gọi các tông đồ: "Hăy đến mà xem". Họ đă đến ngay với Chúa, và c̣n ở lại với Chúa ngày hôm ấy nữa. Cuộc đời ta, bao nhiêu lần ta được mời ta đến với Chúa, qua Bí tích rửa tội, qua lời giảng dạy của bề trên, qua các Bí tích, nhất là BT Thánh thể, qua anh em xung quanh, ta có sẵn sàng đến và ở lại với Chúa trong những dịp đó không?

 

49. Ơn gọi theo Chúa

Mỗi người là một kiệt tác của Thiên Chúa và được kêu gọi làm môn đệ Ngài theo đấng bực khác nhau. Có những người được Chúa gọi lập gia đ́nh để công tŕnh tạo dựng loài người được tiếp tục, có người sống độc thân lo cho nước Chúa lớn mạnh trong thế giới, mỗi người đều được Chúa gọi làm công việc Chúa muốn theo bậc sống của ḿnh: giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân để cộng tác vào công tŕnh của Chúa trong vị thế của ḿnh.

Chàng trai Samuel trong bài đọc I được Chúa chọn gọi làm tư tế để thi hành ư muốn của Yavê thiên Chúa , thực hiện những công việc phục vụ cho tuyển dân của Ngài. Samuel vừa là tư tế vừa là ngôn sứ để truyền giảng lời Chúa cho dân Israel (x. 1Sm 2, 25; 3,20) Samuel đă làm thủ lănh Israel để giúp dân trở về với Chúa, tuân giữ đúng các giới răn của Người. Nhờ trung thành với Chúa mà họ được bảo vệ khỏi sự xâm lấn của quân Philitinh và sống trong thanh b́nh. Samuel c̣n t́m cho dân những vị vua tài cán, đáp ứng nguyện vọng của dân chúng theo ư Chúa muốn.

Trong bài đọc II, thánh Phaolô cho chúng ta biết: chúng ta được Chúa kêu gọi để kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần. Mỗi người chúng ta là đền thờ Chúa Thánh Thần. Chúng ta không thuộc về chính ḿnh v́ đă được chuộc bằng giá máu của Chúa Giêsu Kitô. Vậy phải tôn vinh Thiên Chúa trong thân xác ḿnh và giữ ǵn tâm trí xứng đáng làm nơi Chúa ngự, không được phạm tội nhất là tội dâm dật làm cho toàn thân ra ô uế. Chúng ta là chi thể trong thân ḿnh Chúa Kitô là Hội Thánh cần biết giữ ḿnh trong sạch luôn luôn.

Trong bài Tin Mừng, hai môn đệ của thánh Gioan Tẩy Giả nghe thầy ḿnh giới thiệu Đấng Cứu Thế liền đi theo và ở lại với Người. Họ đă đáp trả tiếng gọi của Chúa và c̣n giới thiệu cho anh em ḿnh cũng được ơn trọng đại đó.

Anrê khám phá ra Chúa giêsu trước nhất nhờ nghe lời Gioan Tẩy Giả và ông nghĩ ngay đến anh ḿnh là Simon Phêrô đang khát mong Đấng Cứu Thế. Ông đă đem đến cho Chúa người Chúa muốn gọi làm đầu Hội thánh của Người ở trần gian. Sau này, Anrê c̣n dẫn những người gốc Hy Lạp tới gặp Chúa Giêsu. Chắc hẳn là Người hài ḷng với Anrê về những việc này. Ơn gọi của Anrê là giới thiệu về Chúa cho người khác và nhất là làm chứng cho Chúa Kitô phục sinh bằng lời rao giảng và mạng sống của ḿnh.

Một người được gọi đồng thời với Anrê là Gioan, người đă trung thành với Chúa tới cùng, người đă theo sát bên Chúa trong những hoàn cảnh bi đát nhất. Gioan là người Tông đồ duy nhất đứng dưới chân thánh giá. Thánh Gioan đă yêu mến Chúa hết ḷng và được gọi là môn đệ Chúa yêu. Nhờ ḷng chân thành yêu mến Chúa mà ngài đă thắng vượt được t́nh nóng nảy và óc bè phái của ḿnh (x. Mc 9, 38), trở nên một người biết thông cảm và hợp tác với người khác. Gioan khởi đầu bằng đức tin là lớn lên trong đức Ái. Gioan đă làm chứng cho t́nh yêu Chúa Kitô và viết lại Tin Mừng t́nh yêu Thiên Chúa đối với loài người trong Ngôi Hai cứu thế.

Mỗi người chúng ta được Chúa gọi làm ǵ? Có lẽ chúng ta không được Chúa hiện ra để kêu gọi như các Tông đồ và cũng không tử đạo theo kiểu của các ngài, nhưng mỗi người được Chúa gọi theo Chúa trong hoàn cảnh riêng của ḿnh. Mỗi người hăy biết lắng nghe tiếng Chúa trong thâm tâm để biết ḿnh phải sống ơn gọi nào và nên làm những ǵ cho Chúa, cho tha nhân và bản thân. Có người được Chúa gọi làm một Anrê trong thời đại mới, biết giới thiệu Chúa cho người khác và dẫn đưa họ đến gặp Chúa. Cụ thể là rao giảng lời Chúa trong gia đ́nh ḿnh rồi cho những người xung quanh bằng gương sáng là việc làm để mọi người nhận ra ơn cứu độ Chúa ban. Chúng ta đă đáp trả tiếng Chúa thế nào? Chúng ta có là những người môn đệ theo sát bên Chúa như thánh Gioan, biết chết đi cho những tính hư nết xấu của ḿnh: những thói ích kỷ, kiêu căng của ḿnh để trở nên giống Thầy Giêsu ngày một hơn.

Để lắng nghe tiếng Chúa, chúng ta cần ở lại trong Bí tích Thánh thể để cảm nhận t́nh yêu và nỗi đau của Chúa Giêsu trên Thánh giá, bắt chước Chúa vâng phục Chúa Cha và hy sinh cho tha nhân được hạnh phúc. Mỗi người hăy quyết tâm sống cuộc sống chứng nhân giữa ḷng đời qua việc đọc kinh, dự lễ sốt sắng, sống ḥa thuận với mọi người trong gia đ́nh cũng như trong thôn xóm, thể hiện t́nh bác ái huynh đệ qua việc giúp đỡ những người nghèo, tham gia những phong trào đoàn thể chứng tỏ sự gắn bó với Giáo hội, với họ đạo.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con là những môn đệ của Chúa, nhưng nhiều khi lại để ḿnh bị lôi cuốn theo những cám dỗ trần thế và lơ là trong nhiệm vụ làm chứng cho Chúa, xin Chúa thương xót và ban ơn trợ giúp chúng con biết thắng vượt ba thù, biết yêu mến Chúa hơn để trung thành với Chúa và trở nên những người con xứng đáng với t́nh yêu Chúa Ba Ngôi.

 

50. Hành tŕnh hay là biến đổi

(Suy niệm của G. Nguyễn Cao Luật, OP)

Lời mời gọi làm biến đổi cuộc đời

Giai đoạn từ sau khi Đức Giêsu chịu phép rửa đến tiệc cưới Ca-na là một thời kỳ chuyển tiếp giữa Cựu và Tân Ước. Đối với các môn đệ của ông Gioan Tẩy Giả, đây là những ngày có tầm quan trọng đặc biệt, có tính cách quyết định: các ông sẽ trở thành môn đệ của Đức Giêsu, các ông sẽ nh́n thấy nước được biến thành rượu, các lời hứa được thực hiện. Đêm trở thành ngày, nghi ngờ biến thành đức tin.

Bên bờ hồ, ông Gioan đang đứng với các môn đệ của ḿnh, như tượng trưng cho quá khứ đă dừng lại. C̣n Đức Giêsu đi ngang qua và các môn đệ ông Gioan tiến đến với Đức Giêsu: h́nh ảnh của tương lai. Qua lời giới thiệu của ông Gioan, hai người môn đệ bắt đầu cuộc gặp gỡ với Chiên Thiên Chúa, và sau đó chia sẻ cuộc sống với Người: họ đă đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người ngày hôm ấy.

Con đường của các môn đệ đến với Đức Giêsu được mở rộng thêm với lời mời gọi "Hăy đến mà xem" , kèm theo một t́nh thân mật mà không có ǵ có thể lật ngược lại. Con đường này diễn ra không phải bằng lời nói nhưng bằng cuộc tiếp xúc với thực tại, bằng việc đi sâu vào cuộc sống và chia sẻ cuộc sống đó.

Đi theo Đức Kitô, các môn đệ đă xem và đă ở lại với Người. Tuy vậy, các ông không ở lại luôn đó Trong truyền thống Do-thái, việc đặt tên cũng có nghĩa là ban tặng cuộc sống.

Đức Giêsu ban cho ông Simon một đời sống mới, kiện toàn đời sống đang có sẵn. Đời sống mới này được diễn tả qua một nhiệm vụ mới: "Phêrô - Đá". Như thế Simon Phêrô vẫn là con người đó nhưng đồng thời cũng là một người khác: ngay ở bên trong con người, có một đời sống mới, một trách nhiệm mới. Kê-pha: đó là tên gọi đầy yêu thương mà Con Người dành cho ông Simon. Từ nay trở đi, người thợ chài lưới tên là Phêrô sẽ phải nỗ lực để xứng đáng với tên gọi đó, qua đời sống làm môn đệ Đức Giêsu, cho đến một ngày chính ông sẽ gọi Người là Con Thiên Chúa.

Câu chuyện về cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa Đức Giêsu với các môn đệ là khởi đầu cho một con đường dài, cho mầu nhiệm hiệp thông: trời cao đă thầm th́ những tên gọi vẫn được giấu kín, và ngược lại, trời cao chờ đợi trái đất khám phá và gọi lên danh hiệu của Thiên Chúa.

Một sự gắn bó

Xưa kia, trong Đền Thờ, cậu bé Sa-mu-en đă nhanh nhẹn đáp lại khi nghe được tiếng nói bí ẩn đang gọi cậu. Cậu đă chỗi dậy, sẵn sàng đón nhận tấm ḷng ưu ái giúp cậu nhận ra chính Đấng đă gọi cậu.

Con đường dài của các ông Phêrô, Anrê, Gioan - và của tất cả mọi người - đă được bắt đầu từ xa xưa với cuộc di cư của tổ phụ Áp-ra-ham và cuộc xuất hành khỏi Ai-cập của dân Ít-ra-en.

Con đường này có đích điểm là Giêrusalem thiên quốc, là tận cùng thế giới. Đó là một cuộc ra đi đ̣i phải có ḷng kiên tŕ ; đó là một hành tŕnh rất dài trong sương mờ để dần dần các ông nhận ra người thợ mộc khiêm tốn của làng Na-da-rét cũng chính là Chiên Thiên Chúa.

Một hành tŕnh như thế, một cuộc biến đổi như thế không chỉ là nỗ lực của trí óc, nhưng là một bước nhảy của tâm hồn. Tuy thế, vẫn cần phải có thời gian, phải có sự quen thuộc. Chính v́ vậy, Đức Giêsu đă quay lại nh́n những người đang e dè bước đi theo ḿnh và đưa ra lời đề nghị: "Hăy đến mà xem".

Có thể giải thích lời đề nghị ngắn ngủi này như sau: "Anh em hăy đến ở với tôi, chia sẻ cuộc sống của tôi. Hăy tiếp xúc với tôi và loại bỏ mọi thành kiến, mọi ư tưởng có sẵn, rồi các anh sẽ dần dần quen thuộc với con người lạ kỳ của tôi, hiểu được con người được sai đến đầy bí nhiệm, con người mang nhiều tước hiệu mâu thuẫn: kẻ bịp đời và Thầy, con loài người và con Thiên Chúa, Chúa và Con Chiên.

Như vậy, quả là một hành tŕnh khó khăn đối với các môn đệ cũng như cho tất cả mọi người. Người ta không thể lấy làm thoả măn v́ những điều đă có. Đức tin chỉ sáng tỏ dần vào cuối một con đường, nó mọc lên như b́nh minh rực rỡ thêm dần theo bước chân của người đi săn.

Phải nói thêm rằng, hành tŕnh này là một khát vọng, một sự biến đổi không ngừng. Sau một chặng đường t́m kiếm, ông Anrê đă nói với em ḿnh là ông Simon: "Chúng tôi đă gặp thấy Đấng Mêsia". Lời giới thiệu này khởi đầu cho cuộc hành tŕnh của ông Simon để "sẽ được gọi là Kêpha", đồng thời cũng đưa tất cả các ông vào một chặng đường mới. Đức Giêsu luôn nhấn mạnh với các ông về sự thay đổi, về sự hoán cải dựa trên những xác tín đă có. Nếu người ta đă t́m thấy Đấng Mê-si-a, th́ vẫn chưa phải là lúc nghỉ ngơi, vẫn chưa có quyền ở lại một chỗ ; trái lại, đó là lúc chấp nhận cách mănh liệt hơn, cách tin tưởng hơn thân phận của Đấng Mê-si-a theo cách thức của Thiên Chúa, và cũng là dám phiêu lưu trong niềm tín thác để vừa là chính ḿnh vừa là một người khác, vừa là con người vừa là con Thiên Chúa.

Gặp gỡ để đáp trả

Vậy, bài Tin Mừng này khích lệ và củng cố chúng ta.

Trước hết, chúng ta biết rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta và trao tặng cho mỗi người một tên gọi riêng phù hợp với con người và sứ mạng của chúng ta. Mỗi người đều có một tên gọi riêng, tên gọi vĩnh cửu được khắc vào một viên sỏi trắng mà chỉ chúng ta mới biết (x. Kh 2,17). Mỗi chúng ta có nhiệm vụ khám phá tên gọi đó và đáp lại t́nh thương của Thiên Chúa bằng một đời sống phù hợp. Đó chính là hành tŕnh của chúng ta.

Ngoài ra, bài Tin Mừng c̣n an ủi chúng ta nếu chúng ta gặp thấy những vấn đề trong đời sống đức tin. Đó là chuyện b́nh thường. Tuy vậy, chúng ta không được khép kín nơi chính ḿnh, không được đứng yên một chỗ và thoả măn với những điều đă t́m được. Đức Giêsu luôn mời gọi chúng ta hăy đến mà xem căn nhà của Người, hăy đến gặp gỡ Người. Hăy đến mà xem Người sống thế nào và múc nước từ nguổn mạch nào. Hăy đi sâu vào bí mật của Người và hăy để ḷng ḿnh được sưởi ấm nhờ sự hiện diện của Người. Hăy tiếp xúc với Người và mắt của chúng ta sẽ bừng sáng.

Ngạn ngữ cổ có câu: "Hăy cho tôi biết anh tiếp xúc với ai, tôi sẽ cho anh biết anh là ai". Chúng ta có thể áp dụng câu ngạn ngữ này vào bài Tin Mừng hôm nay và thấy thật là thích hợp. Nếu chúng ta thường xuyên tiếp xúc với Đức Giêsu, nếu chúng ta sống trong t́nh thân mật với Người, th́ chúng ta sẽ dần dần nên giống như Người, sẽ trở nên môn đệ đích thực của Người.

Sống với Đức Giêsu, đó là nh́n xem với cặp mắt của Người, yêu thương với tấm ḷng của Người và hành động với sức mạnh của Người.

Hăy dành những khoảnh khắc để nghe được lời mời yêu thương của Đức Giêsu. Hăy dành thời gian để đến xem chỗ Người ở. Mỗi lần hăy ở lại lâu hơn. Hăy trở lại đó thường xuyên và dần dần chúng ta sẽ được biến đổi.

* * *

Lạy Chúa,

Chúa muốn chúng con đưa Chúa đi

trên mọi hành tŕnh của cuộc sống

trên những lối quen thuộc hằng ngày.

Chúa muốn chúng con thưa lên với Chúa:

Xin hăy đến và bước đi cùng với chúng con,

xin đừng chậm trễ,

xin đến và nh́n xem

nơi chúng con đang ở ;

xin ở bên chúng con

để mắt chúng con bừng mở

và hy vọng được nảy sinh.

Bấy giờ, nếu Chúa muốn,

chúng con sẽ bước đi theo Chúa

đến những miền xa xăm.

(theo J.Y.Quellec)

 

51. Chúa Nhật 2 Thường Niên

Anh chị em thân mến.

Có một người đạo đức sau bao nhiêu năm tu thân tích đức, giờ đây ông ta muốn t́m một tôn giáo để hướng dẫn đời sống tâm linh. Nhưng ông ta t́m măi vẫn không được. Một hôm, ông nh́n thấy bóng Thánh Giá của một tháp nhà thờ từ xa xa, ông thắc mắc về biểu tượng và ư nghĩa của Thánh Giá. Một cụ già giải thích: Đó là biểu tượng của đạo công giáo, v́ một người đă hy sinh chịu chết trên Thánh Giá, để cho tất cả mọi người được sống. Ông ta gật đầu trầm ngăm suy nghĩ và xin cụ già dẫn đến nhà thờ.

Trên đường đi ông ta rất vui mừng và hồi hộp như vừa khám phá ra một chân lư mới. Đi được một lúc cụ già mới nói cho ông biết là đă bước vào ranh giới của họ đạo. Ông ta hơi ngở ngàn, v́ ông ta nh́n thấy những quán nhậu bên đường, đang có nhiều người trong đó: có nơi th́ ồn ào to tiếng, có nơi th́ nói những lời không được đẹp cho lắm, có nơi th́ chẵng những to tiếng mà thôi, nhưng c̣n dùng cả đến tay chân để rồi rược đuỗi nhau làm náo động cả đường phố.

Đi một quảng nữa, ông ta nh́n thấy những ṣng bài, có nhiều người tụ tập chung quanh.

Đi tiếp tục, ông nh́n thấy những đứa trẻ đang chơi. Nhưng cái đơn sơ hiền dịu đâu không thấy, mà chỉ nghe những lời cọc cằng thô lỗ chưởi bới nhau.

Ông ta bèn lắc đầu rút lui, không tiếp tục cuộc hành tŕnh t́m kiếm nữa. Ông ta rút lui với một nỗi thất vọng; Thất vọng v́ những điều ông nh́n thấy trước mắt. Nếu ông chịu đi thêm một chút nữa để đến nơi mà ông muốn đến, chắc là ông không đến nỗi thất vọng như thế. Như vậy việc ông thất vọng bỏ đi đó, trách nhiệm thuộc về ai ? - Thuộc về chính ông ta. Nhưng c̣n thuộc về cả những điều mà ông đă nh́n thấy.

Các môn đệ thật may mắn, các ông đă được một người dẫn dắt tuyệt vời là Gioan Tẩy Giả. Chẵng những chỉ bằng lời nói, nhưng đi đôi với cả đời sống và hành động. Khi các môn đệ đến với Chúa Giêsu, các ông c̣n được kêu mời: "Hăy đến mà xem". Ngài chẵng bảo ǵ hết, Ngài cũng chẵng đ̣i hỏi ǵ. Ngài chỉ nói: Hăy xem đi và quyết định cho cuộc đời của ḿnh. Các ông đă nh́n xem cuộc đời của người giới thiệu, giờ đây các ông lại nh́n xem đời sống Đấng mà các ông được giới thiệu. Chính những điều các ông nh́n thấy đă thay đỗi cả cuộc đời các ông, và cũng đă làm cho cuộc đời các ông hoàn toàn mới.

Các ông đă nh́n thấy, nên các ông đă can đảm từ bỏ tất cả để bước theo Đấng mà ḿnh đă thấy. Các ông cũng đă công bố, đă rao giảng, các ông c̣n dám dùng chính mạng sống minh chứng điều ḿnh đă rao giảng, để cho bao nhiêu người nh́n thấy.

Ngày nay trên thế giới, được bao nhiêu người nh́n biết Thiên Chúa ? Chỉ khoản 1/3 dân số thế giới. C̣n Việt Nam chúng ta ? - Không được 1/10.

Chúng ta là người công giáo, được biết Chúa rất lâu. Chúng ta đă được giới thiệu không phải chỉ bởi những con người tầm thường, nhưng chính Con Thiên Chúa tự giới thiệu Ḿnh cho chúng ta. Con Thiên Chúa không chỉ mời gọi chúng ta nh́n xem chỗ Ngài ở mà thôi, nhưng Ngài c̣n cho chúng ta nh́n thấy bao nhiêu việc làm biểu lộ t́nh yêu thương của Ngài. Cái chết trên thập giá là tột đỉnh của t́nh yêu thương bao la đó. Vậy mà. . . Mỗi người thử nh́n lại ḿnh xem. Những bước chân mà chúng ta bước theo Ngài như thế nào ? Có phải là những bước chân dứt khoát - Hay chỉ là những bước chân nữa vời, chờ có dịp là vội rút lại ngay. Cuộc đời chúng ta ngày hôm nay có ǵ là mới mẽ tốt đẹp hơn không ? Hay cũng vẫn c̣n là con người cũ và vẫn bước đi trên con đường cũ của bao nhiêu n#m xưa: Con đường của sự ương lười và chỉ biết hưởng thụ cách ích kỷ. Bao nhiêu người chung quanh, họ nh́n thấy được ǵ, chúng ta có dám mời gọi họ hăy đến mà xem cách sống của ḿnh không? Chúng ta mời gọi người khác đến với Chúa, không chỉ bằng lời nói suông, nhưng phải bằng chính đời sống tốt đẹp và gương mẫu của một người biết yêu thương, với đầy đủ tinh thần trách nhiệm. Mọi người nh́n vào gia đ́nh chúng ta, làm sao để họ có thể nh́n thấy được Chúa Kitô đang hiện diện thật sự. Đó là cách chúng ta mời gọi, rao giảng, minh chứng cho mọi người để họ đến với Thiên Chúa. Đó cũng là cách chúng ta bước theo Lời mời gọi của Chúa thật sự.

Xin Chúa cho chúng ta biết can đảm bước theo Chúa và sống đúng với những ǵ ḿnh đă biết.

 

52. Chú giải của Noel Quesson

Mùa Phụng vụ được cấu trúc dựa theo hai lễ lớn: Giáng Sinh và Phục Sinh. Mỗi “thời điểm đặc biệt" trên lại được một thời gian chuẩn bị trước, gọi là Mùa Vọng và Mùa Chay, và được kéo dài theo sau bằng Lễ Hiển Linh và Mùa Phục Sinh.

Ngoài hai giai đoạn lễ quan trọng này, thời gian phụng vụ trong năm trở nên “thông thường" hơn, đó là các Chúa Nhật xem ra ít sắc thái hơn. Tuy nhiên, đó không phải là những Chúa Nhật tẻ nhạt, kém phong phú đâu. Đời sống của ta không chỉ bao gồm những thời gian đặc biệt. Cần phải biết chấp nhận cả những chuỗi ngày b́nh thường nữa.

Sau những ngày lễ hội Giáng Sinh và Năm mới, hôm nay chúng ta lại bước vào một chuỗi dài các Chúa Nhật, qua đó Giáo hội tŕnh bày cho ta cuộc đời trưởng thành của Đức Giêsu.

Hôm sau, ông Gioan lại đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông".

Đây là biểu tượng cho "nếp sống thường ngày", bắt đầu lại mỗi buổi sáng, bề ngoài có vẻ tầm thường, lu mờ, ảm đạm... cứ khởi sự lại hoài hoài, nhưng thực sự có phải chỉ dẫn ta đến buồn chán hay không?

Đâu phải vậy, chính trong bối cảnh tẻ nhạt đó, thông thường xem như "không có cái ǵ xảy ra", th́ lại sắp phát sinh cái mới mẻ! Không có buổi sáng nào tầm thường cả.

Thiên Chúa đều hiện diện ở đó. Hôm nay, một điều ǵ đó sẽ xảy đến.

Thánh Gioan đă có ư soạn thảo chương thứ nhất Tin Mừng của ông, như một "Tuần lễ đầu tiên": chủ yếu là gây chú ư "buổi khởi đầu của Đức Giêsu. (Ga 1,19) đó là ngày thứ nhất. Một phái đoàn Do Thái đến chất vấn Gioan Tẩy Giả tại sông Giođan.

Ga 1,29: Ngày thứ hai “Hôm sau, Gioan Tẩy Giả xác định Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa.

Ga 1,35: Ngày thứ tư, "Hôm sau, Đức Giêsu kêu gọi thêm hai môn đệ khác.

Ga 2,1: Ngày thứ bảy, "Ba ngày sau”, phép lạ đầu tiên đă xảy ra tại tiệc cưới Ca-na, qua đó Đức Giêsu biểu lộ vinh quang của Người và các môn đệ tin vào Người.

Qua các dàn dựng như trên, Thánh sử Gioan muốn báo cho chúng ta một "Tin Mừng": đây là một cuộc sáng thế mới, một cuộc tạo dựng mới được khởi sự, một việc lặp lại trang đầu tiên của Kinh Thánh. Toàn thể "mạc khải" như kêu lên cho chúng ta biết: Không, thời gian không thể tầm thường, tẻ nhạt, buồn chán. Chính thời gian sẽ phát sinh ra điều mới lạ căn bản, thới gian luôn mang chứa năng lực sáng tạo, thời gian sẽ thực hiện công cuộc Tạo dựng.

Đối với tôi mỗi buổi sáng có mang lại một điều ǵ mới mẻ không?

Lạy Chúa, xin giúp con biết chăm chú đến những ǵ sắp gây ra đến "biến cố" sắp xảy đến thường gây bất ngờ cho con, Lạy Chúa, mỗi ngày, Chúa đang chờ đợi con.

Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: "Đây là chiên Thiên Chúa”.

Vâng, Gioan Tẩy Giả giới thiệu Đức Giêsu, và đă khiêm tốn tự xóa nḥa đời ḿnh trước Đấng mà ông loan báo: ông sắp chuyển giao các môn đệ của ḿnh. Họ sẽ rời bỏ Gioan Tẩy Giả để theo một ông Thầy khác. Tước hiệu đầu tiên trên đây, được dành cho con người mà cho tới nay, vẫn được coi là chàng thợ mộc Na-da-rét, có ư nghĩa ǵ? Chàng là "Chiên Thiên Chúa" sao!

Đó là tên gọi mà ta thường hát đi hát lại trong mỗi thánh lễ Dưới tên gọi để chúng ta mặc cho nó một ư nghĩa nào? Gioan Tẩy Giả nhằm nói lên điều ǵ? Ta chỉ cần gợi lại toàn diện bối cảnh Do Thái lúc đó. Tước hiệu này thực sự là bước "chuyển tiếp" từ Cựu ước sang Tân ước; đó là vị ngôn sứ cuối cùng và là chứng nhân đầu tiên Đức Giêsu Kitô. Vào ngày lễ Vượt qua, mỗi gia đ́nh Do Thái giết một con chiên và lấy máu bôi lên cửa nhà ḿnh trong lúc dùng bữa cơm tối: đó là biểu tượng cho công cuộc "giải phóng" ít-ra-en. Ngoài ra, từ "con chiên" trong tiếng A-ra-mên, ngôn ngữ Đức Giêsu sử dụng, cũng có nghĩa là “tôi tớ”. Mọi người Do Thái sùng đạo đều mang trong đầu lời sấm nổi tiếng của ngôn sứ Isaia (53,7), giới thiệu “người Tôi tớ của Thiên. Chúa" hoàn hảo như "một con” chiên bị người ta dẫn tôi ḷ sát sinh mà không mở miệng kêu than". Vậy Đức Giêsu đă được chỉ định như Đấng sắp bị người ta sát tế trong thinh lặng, sắp v́ yêu mà hiến mạng sống ḿnh để xóa bỏ tội lỗi trần gian. Theo tập truyền Do Thái thời Đức Giêsu, người ta thường nói tới một "con chiên Chúa", có thể mọc sừng cừu đực và lănh trách nhiệm "bảo vệ cả đoàn chiên". Ngoài ra, đó cũng là h́nh ảnh mà Gioan sử dụng lại trong sách Khải Huyền, khi ông giới thiệu Con chiên, được chọn từ đoàn chiên, đảm trách việc bảo vệ các anh em ḿnh, tấn công và đánh tan kẻ thù. Chúng ta có đi quá xa bài thánh ca dịu dàng "Đây Con chiên vô cùng hiền lành" không! Thực ra, Chiên Thiên Chúa nơi chúng ta ca ngợi trước khi trước lễ không phải là h́nh ảnh con vật dịu hiền, tŕu mến và vô hại... Đúng ra đó là h́nh ảnh một kẻ giao chiến hiếu thắng nhưng phải đổ đầm đ́a máu huyết để cứu thoát chúng ta khỏi bất hạnh!

Đó là cách thức Gioan đă giới thiệu Đức Giêsu như thể ngay ngày thứ ba khởi sự đời sống công khai của Người.

"Hai môn đệ nghe ông nói đều đi theo Đức Giêsu”.

Tôi có thể h́nh dung ra cảnh tượng trên. Đức Giêsu đang bước đi trên một con đường ṃn dọc theo bờ sông. Hai người theo gót chân Người, thái độ nhút nhát, vẻ hồi hộp... Họ chưa gặp Người bao giờ. Đó là một người lạ mặt. Những ǵ sắp xảy ra đây?

Thật là quá "liều” khi theo một người lạ như thế. Có lẽ, đây là một cuộc mạo hiểm. Nhưng những cuộc hành tŕnh vĩ đại đều bắt đầu như thế cả, v́ nhờ đó mới mở ra một con đường mới.

“Đức Giêsu quay lại, thấy các ông đi theo ḿnh, th́ hỏi..."

Đức Giêsu đă nghe thấy bước chân họ đạp trên sỏi đá, phía sau Người. Người quay lại. Tôi thử quan sát cảnh tượng này. Đây cũng là "cái nh́n đầu tiên" của Đức Giêsu đối với những người lạ mặt...

“Các anh t́m ǵ thế?”

Đây là lời đầu tiên của Đức Giêsu được ghi nhận trong Tin Mừng thánh Gioan. Câu hỏi này Đức Giêsu muốn đặt ra cho mọi người. Hôm nay, Người cũng đang hỏi tôi như thế. "Bạn t́m ǵ đó? Bạn đặt cho đời ḿnh ư nghĩa nào? ước muốn của bạn là ǵ?

Ta cần ghi nhận, sự can thiệp đầu tiên của Đức Giêsu không phải là một "khẳng định", nhưng là một "câu hỏi'. V́ thực ra, để đến với Đức Giêsu, cần phải có thái độ "cởi mở", không thể "khép kín" trong một hệ thống đóng khung, như các "tư tế và trợ tế" đă đến gặp Gioan Tẩy Giả. (Ga. 1,19). Đối với những loại người này, cuộc đối thoại đă sớm kết thúc v́ thực ra họ ‘không t́m cái ǵ cả’. Lời đầu tiên của Đức Giêsu muốn lưu ư ta rằng, điều kiện trước hết để làm phát sinh và đào sâu đức tin, phải là thái độ "t́m kiếm, Đức tin trước hết phải là thái độ t́m hiểu đạo: đó là một cuộc kiếm t́m, một câu hỏi. "Lạy Chúa, Chúa là ai?", kẻ nào cho ḿnh biết tất cả, sẽ bị khựng lại trong những xác tín của ḿnh, sẽ không bao giờ tiến bộ được. "Không có Thiên Chúa! - Bạn có tin chắc như thế không? Thiên Chúa hiện hữu. Người là Đấng này.. Đấng kia - Bạn có xác tín như thế không?". Một triết gia tầm cỡ như Descartes đă nói: "Muốn cho khoa học tiến bộ, cần phải biết "hồ nghi". Cũng vậy, cần phải biết "đặt câu hỏi", như một thứ điều kiện để phát triển đức tin. C̣n Péguy đă diễn dịch như sau: "Có những tâm hồn hoàn toàn khép kín, không để một ngơ ngách nào cho ân sủng thâm nhập. Không có chỗ có thể "thấm ướt" được, th́ làm sao có thể tiếp thu... ".

Lạy Chúa, xin ban cho tâm hồn chúng con biết mơ mộng, biết kiếm t́m.

Họ đáp: 'Thưa Rapbi, (nghĩa là thưa Thầy) Thầy ở đâu?”. Người bảo họ: “Đến mà xem".

T́m kiếm... bước theo... cư ngụ... đó là ba thái độ cốt yếu của t́nh yêu. Tôi có kiếm t́m Thiên Chúa không? Tôi có theo vết chân Người không? Tôi có luôn ở cùng Thiên Chúa không? Đức Giêsu đáp lại ḷng mong muốn, thái độ kiếm t́m của họ. Nhưng, cách đáp trả của Người luôn tôn trọng tự do của họ: "Hăy đến mà xem?” Đức Giêsu không bó buộc các ông đi theo. Người không phải là một nhà tuyên truyền, một người quảng cáo, khi cần thiết có thể t́m mọi cách và áp lực người ta hoán cải. Phần tôi, cách tôi sử dụng để tŕnh bày đức tin như thế nào?

“Họ đă đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng bốn giờ chiều”.

Có những từ mà Gioan không những gặp đi lặp lại.

Không phải ông nghèo ngữ vựng, nhưng ông chú ư sử dụng vậy. Nhờ cách lặp đi lặp lại như thế, ông có thể diễn tả bước tiến của "người môn đệ": "kiếm t́m"(1,38), "đến xem" (1, 39 và 46), "quan sát" (l,39 và 41), "gặp thầy" (1,41 và 45), "bước theo” (l,37.38.40.43) "ở lại" (l,38.39).

Gioan Thánh sử là một trong hai người đă bước theo Đức Giêsu. Kỷ niệm của ông rất chính xác, như kỷ niệm lần đầu gặp gở của hai người yêu nhau. Ong ghi lại cả giờ giấc sự kiện đó đă diễn ra vào lúc "bốn giờ chiều', (thời đó người ta gọi đó là giờ thứ mười). Hôm đó, họ đă trao đổi với nhau những ǵ? Hẳn là hai ông đă kể lại đời sống, những khát vọng, những mong ước, thái độ "t́m kiếm" của họ. C̣n Đức Giêsu, có thể Người đă nói cho họ biết về những dự tính, những ước muốn riêng của Người.

“Ông Anrê, anh ông Simon Phêrô, là một trong hai người đă nghe ông Gioan nói và đi theo Đức Giêsu. Trước hết, ông gặp em ḿnh là ông Simon và nói: "Chúng tôi đă gặp Đấng Mêsia, nghĩa là Đấng Kitô".

Một nét đặc thù đáng ghi nhận, đó là lời mời gọi của Thiên Chúa, hay "ơn gọi", thực tế được truyền đến tai con người, nhờ các mối tương quan nhân loại. Để nghe được lời mời gọi của Thiên Chúa, cũng cần phải chăm chú tới tiếng gọi của con người. Đó là những trường hợp của Gioan Tẩy Giả, trước hết ông gọi Anrê và Gioan. Rồi đến lướt Anrê và Gioan lại kêu gọi Simon. Sau này, Philipphê cũng sẽ mời gọi Nathanaen như thế.

Tôi có nuôi tư tưởng khi có dịp sẽ hướng dẫn một người nào đó tới gặp gỡ Đức Giêsu không? Khám phá ra Đức Giêsu rồi, tôi có lo truyền đạt cho kẻ khác hay chỉ biết giữ riêng cho ḿnh?

“Ông dẫn em ḿnh đến gặp gỡ Đức Giêsu, Đức Giêsu nh́n ông Si-mon và nói: "Anh là Simon, con ông Gioan. Anh sẽ được gọi là Kêpha", "tức là Phêrô".

Trở nên môn đệ, nghĩa là "thay đổi" đời sống... đó là bước vào một, cuộc phiêu lưu mới, trở nên một "con người mới". Đó là ư nghĩa việc đổi tên cho Simon. Đối với các môn đệ đầu tiên, mỗi khi hồi tưởng lại, các ông đều cảm thấy việc thay đổi đời sống của ḿnh thật là phi thường.

Đó là khởi đầu cho một định hướng hoàn toàn khác lạ trong đời sống của các ông. Trong năo trạng của người Sêmít, việc đổi tên cũng có nghĩa là, Thiên Chúa hoàn toàn ảnh hưởng trên Simon Phêrô. Những con người đó đă "t́m kiếm" Đức Giêsu, đúng vậy? nhưng chính Đức Giêsu cũng kiếm t́m họ... Chinh Người khởi xướng trước nhờ "ân sủng" kỳ diệu của Người. Ơn gọi: vừa là tiếng kêu gọi của con người... vừa là lời mời gọi của Thiên Chúa.

 

53. Điều quan trọng là ḷng tin kiên vững

(Suy niệm của Vinh sơn Trần Xuân B́nh, OP)

Kính thưa cộng đoàn !

Bài đọc I kể lại câu chuyện Đức Chúa gọi Sa-mu-en và Sa-mu-en đă đáp lời: “Xin Ngài phán, v́ tôi tớ Ngài đang lắng nghe.” Chính lời đáp trả này mà Đức Chúa đă ở với Sa-mu-en và “Người không để cho một lời nào của Người ra vô hiệu.”

Bài đọc II thánh Phao-lô tự vấn tín hữu Cô-rin-tô rằng: “Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao ?” Và ngài khẳng định, “ai đă kết hợp với Chúa, th́ nên một tinh thần với Người.”

C̣n bài Tin mừng hôm nay, thuật lại biến cố Đức Giêsu mời gọi các môn đệ của ông Gioan đến sống thâm t́nh với Người, qua đó các môn đệ của ông Gioan đă xác tín vào lời giới thiệu của thầy ḿnh về Đấng Kitô, “đây là Chiên Thiên Chúa” v́ thế họ đă tuyên nhận Đức Giêsu là Đấng Mê-si-a nghĩa là Đức Kitô Con Thiên Chúa.

Như vậy tất cả những ai sống thâm t́nh với Thiên Chúa đều được Chúa đoái thương cư ngụ trong tâm hồn và Thiên Chúa trở nên thân thiện và hằng quan tâm chăm sóc họ trong suốt cuộc đời.

Cũng vậy nhờ được đến sống thâm t́nh với Đức Giêsu tại nơi ở của Người mà các môn đệ đă trải nghiệm được t́nh yêu Thiên Chúa đối với họ qua con của Người là Đức Giêsu Kitô, đó là điều có lẽ suốt cuộc đời, họ luôn khắc ghi trong tâm hồn và thiết nghĩ đó cũng là niềm xác tín rất riêng tư nơi sâu thẳm tâm hồn mỗi tín hữu về một Đức Kitô đă được trao ban cho con người và v́ con người. Đó là Mầu nhiệm hiện diện của Con Thiên Chúa nơi thế gian, đặc biệt nơi sâu thẳm tâm hồn mỗi con người.

Để có được trải nghiệm này không phải là chuyện dễ, thật thế làm sao chúng ta cảm nhận được một Thiên Chúa đang hiện diện trong tâm hồn và Người rất thân thiện và hằng quan tâm ủi an chúng ta ? Làm sao chúng ta cảm nghiệm được một Thiên Chúa là ánh sáng cho trần gian ? Làm sao chúng ta cảm nghiệm được một Thiên là đường dẫn đưa chúng ta đến cùng Chúa Cha ? Làm sao chúng ta cảm nghiệm được một Thiên Chúa đă được sinh ra trong tâm hồn chúng ta cho chúng ta và v́ chúng ta ? …

Điều quan trọng là ḷng tin kiên vững mà Đức tin đă tặng ban cho chúng ta, chứ không phải là cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa. Bởi v́ sự hiện diện của Thiên Chúa, không hệ tại vào những tài năng của linh hồn, nhưng là từ tận nơi sâu thẳm của linh hồn. Chính v́ thế, điều đó lư giải tại sao mà chúng ta không lănh hội được. Thật thế Thiên Chúa luôn thân thiện, nhưng chúng ta không có một chút cảm nhận nào. Thiên Chúa rất thân thiện với chúng ta, nhưng chúng ta lại xa Người. Thiên Chúa ở trong c̣n chúng ta th́ ở ngoài. Thiên Chúa luôn ở trong ngôi nhà tâm hồn chúng ta, thế mà chúng ta lại là kẻ xa lạ với chính ngôi nhà của chúng ta. Như lời sách Công vụ tông đồ đă nói: "Trong Người, chúng ta sống, cử động và hiện hữu" (Cv 17:28), Ngài bao bọc chúng ta mọi nơi mọi lúc. Cũng như thánh Âu-tinh, chúng ta tin tưởng cầu nguyện với Thiên Chúa rằng: "Lạy Chúa, xin che chở con, và con đă được Người che chở". Khi ấy, chúng ta có thể lắng nghe tiếng Chúa Thánh Thần mách bảo trong sâu thẳm tâm hồn, v́ này Triều Đại Thiên Chúa "đang ở giữa các ngươi" (Lc 17:21).

Khi Đức Giêsu Kitô sinh ra vào trong thế gian như một phàm nhân, th́ Người cũng được sinh ra trong tâm hồn chúng ta. Và như vậy, Người là ánh sáng soi chiếu thế gian, là ngọn đèn nội tâm dẫn đưa chúng ta đến cùng Chúa Cha. Chúng ta hăy lắng nghe lời Người với một tấm ḷng đơn sơ thành thật đừng ngờ vực. Nếu chúng ta chỉ lắng nghe mà không hành động theo, khi ấy chúng ta sẽ mất tất cả. Như vậy chúng ta không được biến đổi và không thể nhận biết được Thiên Chúa trong sâu thẳm tâm hồn, nơi mà chúng ta được mời gọi nhận biết Thiên Chúa trong đó.

Đức Kitô đă sinh ra trong chúng ta và chúng ta cần nuôi dưỡng mối liên hệ thân thuộc với Người. Sự sinh ra của Đức Kitô cho phép chúng ta thông phần vào bản tính Thiên Chúa; như vậy, nhân loại được liên kết với Thiên Chúa sau khi xa ĺa Thiên Chúa một thời gian rất lâu v́ tội nguyên tổ. Sự sinh ra của Đức Kitô là qùa tặng cao qúi của Thiên Chúa nhờ sự sáng tạo của Người; xuất phát từ t́nh yêu vô biên của Thiên Chúa v́ chúng ta. V́ thế chúng ta được kêu mời đáp trả lại t́nh yêu ấy theo cùng cách thức, với ḷng mến chúng ta sẵn sàng hiến dâng cả thân xác lẫn ư muốn cho Thiên Chúa, v́ Người đă yêu chúng ta trước. Chúng ta có thể yêu Chúa qua lời cầu nguyện và qua sự phục vụ tha nhân.

Tất cả những điều nêu trên có thể lư giải cho chúng ta những vấn đề: tại sao chúng ta phải cầu nguyện, tại sao chúng ta phải ăn chay, tại sao chúng ta phải làm tất cả những việc lành, tại sao chúng ta phải rửa tội, tại sao Thiên Chúa phải trở nên phàm nhân, tại sao chúng ta phải sống thân t́nh với Thiên Chúa, tại sao tất cả những điều đó là cao cả nhất ? Thưa ! v́ Thiên Chúa đang hiện diện trong tâm hồn chúng ta, Người rất thân thiện và hằng chăm sóc ủi an chúng ta.

Chúng ta hăy mở rộng tâm hồn ra và đến với Thiên Chúa trong sự cô liêu hoàn toàn, nhờ đó mà chúng ta tỉnh thức với những ǵ mà Đức Kitô mang tặng chúng ta: một thế giới mới, một thế giới nội tâm mà Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta và v́ chúng ta. Đó là Mầu nhiệm hiện diện. Chúng ta hăy cầu xin Chúa ban ân sủng để nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi sâu thẳm tâm hồn. Nếu chúng ta chưa nhận ra th́ hăy có sự ao ước để được nhận ra, nếu chúng ta chưa thể có sự ao ước để nhận ra th́ hăy ao ước có sự ao ước đó. V́ chính Đức Giêsu đă nói: "Ai yêu mến Thầy, th́ sẽ giữ lời Thầy, và Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở lại với người ấy" (Ga 14,23).

Lạy Chúa xin ban ân sủng cho chúng con để chúng con nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi sâu thẳm tâm hồn. Amen.

 

54. Các môn đệ đầu tiên – Lm. FX. Vũ Phan Long

1.- Ngữ cảnh

Trong Tin Mừng Gioan, bài tường thuât ơn gọi các môn đệ được ghép vào bên trong cái mà người ta gọi là “Tuần lễ khai mạc sứ vụ của Đức Giêsu”.

- hai ngày đầu: Gioan Tẩy Giả làm chứng (phủ định - khẳng định);

- ngày thứ ba (“hôm sau”, 1,35): lần này Gioan Tẩy Giả giới thiệu Đức Giêsu cho hai môn đệ: “Đây là Chiên Thiên Chúa” (cc. 35-36);

- đoạn văn của chúng ta (1,35-42) nằm ở vị trí này;

- ngày thứ tư (“hôm sau”, 1,43): Đức Giêsu gọi Philípphê và Natanaen;

- “ngày thứ ba” (2,1): Đức Giêsu “bày tỏ vinh quang” (2,11) tạiCana miền Galilê.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba phần:

1) Hai môn đệ đầu tiên (1,35-39);

2) Anrê (1,40-42a);

3) Simôn (1,42b).

3.- Vài ghi chú về chú giải

- Ông Gioan đang đứng... (35): Có một nhóm môn đệ thường xuyên ở quanh Vị Tẩy Giả (x. Mc 2,18t và //; Mt 11,2; 14,12; Lc 11,1; Ga 3,25). Bản văn xác định tiếp rằng một trong hai môn đệ là Anrê, em của Simôn (41); c̣n người thứ hai th́ vô danh.

T́m cách dung ḥa bài tường thuật của TM IV với bài của các TMNL nói về ơn gọi của các môn đệ (x. Mc 1,16-20) là chuyện vô ích. Chỉ có một điểm gặp nhau: hai anh em Simôn và Anrê ở trong số những người được gọi đầu tiên. C̣n các khác biệt quá lớn:

+ Theo Mc 1,29: Simôn ở Caphácnaum; theo Ga 1,44: hai anh em gốc Bétxaiđa.

+ TM IV không nói ǵ tới các con ông Dêbêđê, trong khi theo Mc 1,18-20, họ là cặp môn đệ thứ hai; Mc lại không hề nói đến Philípphê và Natanaen.

+ Bối cảnh cũng khác nhau: theo TM IV, các môn đệ đầu tiên thuộc nhóm của Vị Tẩy Giả, đă được ông hướng dẫn tới với Đức Giêsu; theo Mc, Đức Giêsu chỉ kêu gọi các môn đệ sau khi Vị Tẩy Giả bị bắt, và kêu gọi tại bờ hồ Ghennêsarét, chứ không tại bờ sông Giođan, lúc đó họ đang làm nghề chài lưới.

+ Ư hướng tổng quát khác nhau: Theo Mc, đây là một biến cố bất ngờ lôi kéo người ta ra khỏi cuộc sống hằng ngày để thi hành sứ mạng tông đồ. Dường như bản văn Ga c̣n ghi giữ lại kỷ niệm lịch sử, đó là các môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu, và có thể chính tác giả, đă có lúc thuộc về nhóm Gioan Tẩy Giả.

- thấy Đức Giêsu đi ngang qua (36): Hôm sau ngày làm chứng (cc. 29-34), trong khi Vị Tẩy Giả c̣n đứng đó, Đức Giêsu đă bắt đầu tiến đi: thái độ của Gioan tượng trưng rằng sự nghiệp của ông đă đến lúc chấm dứt; thái độ của Đức Giêsu đánh dấu khởi đầu cuộc đời của Người là một cuộc tiến bước thiêng liêng, sẽ đưa Người về với Chúa Cha (x. Ga14,28). C̣n Gioan th́ tức khắc nói với hai người trong nhóm môn đệ đă đến để t́m ơn cứu độ nơi ông, rằng: “Đây là Chiên Thiên Chúa”.

- Các anh t́m ǵ thế? (38): “T́m” (zeteô: 34 lần trong TM IV) có nghĩa là “t́m cách có lại những đồ vật đă bị mất hoặc để lạc”. Trong tiếng Hy Lạp LXX, đây là từ ngữ chuyên môn để nói về việc đi t́m Thiên Chúa, đặc biệt t́m sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa (x. Hn 1,1-2a; 8,2.18 …). Trong tiếng Híp-ri, “t́m” là darash; darash ha Torah, “t́m Torah”, có nghĩa là giải thích Kinh Thánh.

- Thưa Rabbi, Thầy ở đâu? Trên môi họ, câu hỏi chỉ nhắm nơi Đức Giêsu đang sống, để họ đến gặp, nhưng tác giả là người đă quen sử dụng các từ ngữ theo hai ư, có lẽ cũng hiểu câu hỏi theo một nghĩa sâu hơn: “Thầy ở đâu về phương diện thiêng liêng?”. Đối với ông, các môn đệ đă mặc nhiên thưa với Đức Giêsu lời thỉnh cầu của Philípphê và của bất cứ người nào: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha (nơi Chúa Cha, Thầy đang cư ngụ), như thế là chúng con măn nguyện” (14,8).

- Đến mà xem (39): Dịch sát là “Hăy đến và các anh sẽ xem thấy, erchesthe kai opsesthe. Mệnh lệnh cách erchesthe có thể hiểu theo nghĩa điều kiện là “nếu như, với điều kiện”. C̣n opsesthe là th́ tương lai của động từ horaô, có thể hiểu như một lời hứa của Đức Giêsu: TM IV có bốn động từ để diễn tả cái nh́n, từ cái nh́n thể lư nhất đến cái nh́n chiêm ngưỡng sâu sắc nhất, đó là: blepein, theasthai, theôrein, horan [idein]. Động từ sau cùng thuộc về lănh vực đức tin. Trong Ga 1,39, Đức Giêsu mời các ông di chuyển về phía Người và có cái nh́n đức tin.

Câu trả lời của Đức Giêsu ở đây cũng có một mức sâu hơn: việc khám phá ra nơi ở trần thế của Người tượng trưng và chuẩn bị cho việc khám phá ra nơi ở thiêng liêng của Người. Bước đi theo Người theo cách thể lư, các môn đệ thấy nơi trú ngụ của Người; hơn nữa, đă bước đi theo Người cách thiêng liêng bằng ḷng tin, họ cũng bắt đầu thấy được nơi ở thiêng liêng của Người, tức Chúa Cha: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (14,9).

- Họ ở lại với Người (39): Đây là chặng đầu của một cuộc chung sống đưa tới sự hiệp thông sâu xa nhất (x. 15,4). Trọn buổi chiều, kể từ 4g, họ xem và ở lại với Đức Giêsu, về thiêng liêng cũng như về thể lư. Buổi chiều hoặc đêm đáng ghi nhớ ấy mở đầu cho đời sống đức tin tṛn đầy, đă đưa Anrê và người môn đệ vô danh kia vào trong mầu nhiệm của đời sống Đức Kitô và làm cho họ rất phấn khởi: “Chúng tôi đă gặp Đấng Mêsia”, Anrê reo lên như thế khi gặp Simôn. Một niềm vui thiêng liêng bùng ra: đây là niềm vui được ban cho những tâm hồn khám phá ra viên ngọc quí và kho tàng trên trời (x. Mt 13,44).

- Khoảng giờ thứ mười (39): tức khoảng 4g chiều. TM IV quen ghi chú về thời gian chính xác (x. 4,52; 18,28; 19,14; 20,19), nhưng hẳn là có một ư hướng biểu tượng. Trong một số bản văn của Cựu Ước hoặc của Do Thái giáo đương thời, số 10 là con số hoàn hảo; vậy “giờ thứ 10” hẳn là giờ hoàn tất và đánh dấu khởi đầu công tŕnh của Đức Giêsu. Quả thế, ở 11,9, ngày là một h́nh ảnh được dùng để gọi thời gian Đức Giêsu hoạt động ở trần gian (x. thêm 9,4-5; 12,35). “Mười” là một con số hoàn hảo đối với các triết gia phái Pythagore và triết gia Philô khiến Bultmann gợi ư rằng đây là giờ của sự hoàn tất. Cũng có những tác giả cho rằng ngay hôm sau, bắt đầu vào lúc mặt trời lặn, là một ngày sa-bát; do đó hai môn đệ đă phải ở lại với Đức Giêsu để tránh di chuyển vào ngày ấy.

- Trước hết (prôton) (41): Cuộc tṛ chuyện đă kéo dài trong đêm. Do đó, chúng ta hiểu là sáng hôm sau, Anrê trước hết vội vă đi t́m anh trước khi làm bất cứ việc ǵ.

- Chúng tôi đă gặp Đấng Mêsia (41): Dịch sát là “Chúng tôi đă t́m thấy/t́m ra Đấng Mêsia” Heuriskein, t́m thấy, được dùng thường xuyên trong phân đoạn này và phân đoạn sau. Anrê “t́m thấy/ra” Simôn, báo rằng họ đă “t́m thấy/ra” Đấng Mêsia. Sau được Đức Giêsu “t́m thấy/ra”, Philípphê “t́m thấy/ra” Natanaen và bảo rằng đă “t́m thấy/ra” Đấng Mêsia.

- Anh sẽ được gọi là Kêpha, tức là Phêrô (42): Kêphas là từ A-ram kêpha được hy-hóa, có nghĩa là “tảng đá”. Cũng như từ rabbi (c.38) và Mêsia (c.41), kêpha là từ A-ram (Chúng ta lưu ư là có ba từ A-ram trong cùng một đoạn văn). Hẳn là tác giả suy tư trong ngôn ngữ này, hay ít ra ông cũng rất quen thuộc các thuật ngữ A-ram. Bản RSV dịch thành một câu hỏi: “So you are Simon the son of John? Vây anh là Simôn con ông Gioan à?”. Người ta đặt tên cho những người hoặc những vật thuộc quyền kiểm soát của ḿnh (x. St 2,20; Đn 1,7); người cha đặt tên cho con cái (Mt 1,25; Lc 1,63).

4.- Ư nghĩa của bản văn

* Hai môn đệ đầu tiên (35-39)

Truyện hai môn đệ này chắc chắn có dấu vết những hoài niệm về một vài môn đệ. Nhưng dưới ng̣i bút của tác giả, truyện mang tính điển h́nh để chia sẻ với độc giả cái nh́n về đời môn đệ. Các biến cố xảy ra rất nhanh, trong cái khung giả tạo bảy ngày: các môn đệ đầu tiên đến gặp Đức Giêsu, rồi Đức Giêsu gọi Phêrô, Philípphê, Nathanaen. Cuối cùng toàn chương kết thúc với lời Đức Giêsu long trọng mạc khải về chính ḿnh: “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên sứ của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người” (Ga 1,51).

Trước khi truyện đạt tới đỉnh cao này, tác giả ghi lại lời chứng của Gioan. “Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa”“ (Ga 1,36). Lời này nhắc lại lời nói trong hoạt cảnh ở c. 29, chỉ khác là thuộc về ngày hôm sau. Đây là “cấu trúc trôn ốc” quen thuộc của tác giả. Ngài thường xuyên trở lại với những đề tài cũ, cứu xét chúng từ những viễn tượng khác, thăm ḍ, và chia sẻ với các độc giả sự phong phú đặc biệt của những thực tại ngài đề cập đến (x. Ga 20,19-23).

Lúc đó Gioan [và hai môn đệ] được mô tả là “đang đứng” (heistêkei). Có vẻ như thể ông đang chờ chuyện ǵ đó xảy ra. Trong TM IV, hành động duy nhất có ư nghĩa mà Gioan làm, đó là làm chứng. V́ lúc này Đức Giêsu chưa xuất hiện, hành động đó chưa xảy ra được. Như ngày hôm trước, Gioan thấy Đức Giêsu bước đi và đă giới thiệu Người (Ga 1,29), sang ngày hôm sau, một lần nữa, Gioan lại công bố Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa. Hoạt cảnh của ngày hôm qua cho biết ư nghĩa của tên gọi bí ẩn này; hoạt cảnh hôm nay cho thấy hậu quả của lời loan báo ấy. Ông mời họ rời ông để gắn bó với Đấng Cứu thế duy nhất chân thật.

Do được thầy giới thiệu, hai môn đệ đă quyết định đi theo Đức Giêsu. Ơn gọi của họ, cũng như của Samuen, được đánh thức bởi một người khác, không phải bởi “ánh sáng” nhưng bởi “chứng nhân của ánh sáng” (1,8; 3,3). Tác giả không nói ǵ đến hoàn cảnh thời gian, không gian, tâm lư của các nhân vật: đây cũng là một lược đồ. Ư thức về sự khác biệt giữa tiếng nói và Đấng được tiếng nói làm chứng cho, hai môn đệ bước theo Đức Giêsu.

Hẳn là v́ nghe tiếng bước chân, Đức Giêsu quay lại, và thấy các ông đi theo ḿnh. Người hỏi thẳng: “Các anh t́m ǵ thế?” (Ga 1,38). Những người đi theo thưa với Người là “Rabbi”, không trả lời câu hỏi của Người, mà lại hỏi Người ở đâu. Thay v́ cung cấp một câu trả lời trực tiếp, Đức Giêsu mời hai người đến và xem nơi Người ở. Hai ông đă nhận lời mời và đi với Người đến nơi Người ở, nơi này là nơi nào chúng ta không biết. Lúc đó vào khoảng giờ thứ 10 (= 4g chiều, hay là 5/6 ngày đă trôi qua), tức đă muộn. Có lẽ họ đă qua đêm với Người. Chi tiết về thời gian này có ư nghĩa ǵ với tác giả không? Điều đánh động trong mẩu đối thoại giữa Đức Giêsu và các môn đệ đầu tiên của Gioan, đó là họ xưng hô với Đức Giêsu là Rabbi. “Thưa Ngài” (Kyrie) là từ ngữ thường được dùng để bày tỏ ḷng tôn kính; TM IV thường dùng từ ngữ này vào những dịp tường thuật các cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu với người khác. Những người được hưởng nhờ quyền lực siêu phàm của Đức Giêsu cũng gọi Người là “Kyrie”. Rabbi có nghĩa chữ là “thầy tôi” (didaskalos), thường được các môn sinh dùng để gọi vị thầy họ trân trọng, nhưng sau này chỉ c̣n nghĩa là “thầy”.

Trong TM IV từ đầu cho đến đây, không chi tiết nào cho thấy Đức Giêsu là một thầy giáo. Không một điều ǵ gợi ư là dân chúng mong ước Đấng đang đến là một thầy dạy. Trong TM này, từ ngữ Rabbi cũng không được sử dụng nhiều: 7 trên 8 lần được các môn đệ Đức Giêsu sử dụng (1,38.49; 3,2; 4,31; 6,25; 9,2; 11,8); lần c̣n lại được đặt trên môi của các môn đệ nh́n nhận Gioan là thầy họ (3,26).

Hai môn đệ vô danh “bước theo” Đức Giêsu. Trong ngôn ngữ Hy Lạp, “bước theo” (akoloutheô) có nghĩa là “đi đàng sau một người”; “trở thành môn đệ” (nghĩa ẩn dụ). Thay v́ theo Gioan, bây giờ họ bước theo Đức Giêsu. Họ đă học với Gioan; nay họ phải học với Đức Giêsu. Chính v́ thế, họ gọi Người là “Rabbi”. Đây là cách tác giả diễn tả đ̣i hỏi từ bỏ tận căn được nói đến trong các TMNL (x. Mt 19,21; Mc 10,21; Lc 18,22): hoặc họ là môn đệ của Đức Giêsu hoặc họ là môn đệ của Gioan. Không thể có thỏa hiệp. Đây không c̣n phải là quyết định triệt để trở thành môn đệ bằng cách từ bỏ những của cải vật chất nữa để đi theo một vị thầy du thuyết; đúng hơn, đây là từ bỏ một dấn thân đầu tiên trong đức tin của ḿnh.

Nhưng ở đây không chỉ có vấn đề một dấn thân tận căn. Tác giả diễn tả xác tín của ḿnh là những ai đă thật sự học nơi Gioan, những ai đă thật sự hiểu ư nghĩa của lời chứng của Gioan, th́ trở thành môn đệ của Đức Giêsu. Các môn đệ của Gioan t́m được vị trí đúng đắn của họ trong cuộc đời khi họ trở thành môn đệ của Đức Giêsu. Những ai đă chú ư thật sự đến lời chứng của Gioan th́ phải đi vào nhóm môn đệ của Đức Giêsu. Đây là ư nghĩa biểu tượng và cũng là ư nghĩa đích thật của bài tường thuật.

Câu hỏi mở đầu của Đức Giêsu cũng lạ: “Các anh t́m ǵ thế?”, một câu hỏi trên b́nh diện tường thuật thuần túy chỉ có nghĩa là “Các anh muốn ǵ?”. Họ không đáp lại bằng một câu trả lời, nhưng bằng một câu hỏi: “Thầy ở đâu?”. Nếu so sánh với ba TMNL, ta thấy những lời đầu tiên Đức Giêsu nói công khai được các TM ấy ghi lại đều có chất chứa một chương tŕnh cho toàn thể Tin Mừng (Mt 3,15; Mc 1,15; Lc 4,21), c̣n TM IV th́ thế nào?

Có thể cho rằng tác giả tŕnh bày các môn đệ đầu tiên của Gioan như là những cá nhân đang theo đuổi sự Khôn Ngoan thần linh. Tuy nhiên, Đức Giêsu chính là hiện thân của sự Khôn Ngoan thần linh. Thật khôi hài, những người đi t́m sự Khôn Ngoan thần linh lại t́m thấy sự Khôn Ngoan hiện thân khi họ bước theo Đức Giêsu. Rồi tác giả cũng cho thấy Đức Giêsu giải thích Kinh Thánh, và thường quy chiếu về bản thân Người. Chẳng hạn, Người thực hiện một midrash[1] về Tv 78,24 trong Diễn từ về bánh ban sự sống (Ga 6,26-51). Từ cách hiểu tổng quát về Đức Giêsu như thế, rất có thể tác giả mô tả hai môn đệ đi đến với Đức Giêsu như đến với người có thể giải thích Kinh Thánh. Nếu vậy, hẳn là họ đă có lư khi thưa “Rabbi” (Ga 1,38), nhưng danh hiêu này cũng phản ánh cách các thành viên của cộng đoàn tác giả hiểu về Đức Giêsu. Do đó, câu hỏi của hai ông “Thầy ở đâu?” đă được Đức Giêsu nâng lên một b́nh diện ư nghĩa khác (x. phản ứng của Đức Giêsu đối với câu nói của Đức Maria tại tiệc cưới Cana: Ga 2,3-4), khi Người bảo các ông bằng một câu nặng chất đức tin: “Hăy đến và các anh sẽ xem thấy”.

Hai môn đệ hỏi: “Thầy ở đâu?”. Câu hỏi này không đơn giản như thoạt nh́n. “Ở/ở lại”, menô, là một động từ tác giả rất ưa chuộng (67 lần trong truyền thống Gioan; 40 lần trong TM IV; 51 lần trong phần c̣n lại của Tân Ước).

Mặc dù thỉnh thoảng tác giả sử dụng động từ này theo nghĩa thông thường là “ở lại, stay” hoặc “sống, live”, ngài rất thường dùng từ này theo một nghĩa thần học sâu sắc. “Ở [lại]” thường gợi lên một khoảnh khắc đặc biệt quan trọng trong lịch sử cứu độ (Để diễn tả ư nghĩa này, có những tác giả dịch là “abide”). Đức Giêsu “ở lại” với các môn đệ đang tin vào Người (Ga 2,12; 4,40; 7,9; 10,40; 11,6.54; 14,25). Đám đông nói rằng Đấng Kitô “ở lại” (tồn tại) măi măi (Ga 12,34), nhưng tác giả gợi ư rằng Đức Giêsu ở lại Nhà của Cha Ngài (Ga 8,35). Trong các bài diễn từ cáo biệt (Ga ch. 13–17), tác giả tŕnh bày rộng răi ư nghĩa đích thực của “ở lại”. Đức Giêsu trở về với Chúa Cha để chuẩn bị một chỗ cho các môn đệ để họ được ở với Người (Ga 14,2-3).

Chúa Cha ở lại trong Đức Giêsu (Ga 14,10) và Thánh Thần ở lại trong các môn đệ của Đức Giêsu (Ga 14,17). “Ở lại” không chỉ là “ở với”, mà c̣n có nghĩa là “ở trong”. Trong thực tế, có một sự “ở lại trong nhau” giữa Đức Giêsu và các môn đệ. Họ ở lại trong Người và Người ở lại trong họ (Ga 15,4.5.7). Các môn đệ ở lại trong t́nh thương của Đức Giêsu (Ga 15,9.10), và các lời Người ở lại trong họ (Ga 15,7). Ư nghĩa tối hậu của Bí Tích Thánh Thể là: đây là một phương tiện để ở trong nhau và hiến mạng sống cho nhau (Ga 6,56).

Tất cả những điều này đă được tiên báo khi Đức Giêsu mời hai môn đệ vô danh đến và xem Người ở đâu. Không phải là Người muốn họ đến mà thăm cái lều người Ả-rập du cư (bedouin) hoặc một nhà trọ nào bên đường. Người mời họ đến mà nhận thấy rằng Người đang ở với Chúa Cha và Chúa Cha đang ở với Người. Họ đến mà trải nghiệm rằng sống chung với Người chính là điều duy nhất quan trọng của đời sống Kitô hữu.

Cũng như Gioan đă thấy (horaô) Thần Khí ở lại (menô) trên Đức Giêsu, các môn đệ được mời xem/thấy (horaô) nơi Đức Giêsu ở (menô). Đây không phải là một vấn đề nh́n xem bằng cặp mắt thể lư, mà là một nhận thức nhờ đức tin. Như ông Gioan đă trải nghiệm cái nh́n mà Thiên Chúa đă hứa (cc. 32.34), các môn đệ cũng chấp nhận lời mời của Đức Giêsu: “Hăy đến và các anh sẽ xem thấy, erchesthe kai opsesthe” (1,39). Một lời mời gọi (các anh hăy đến) và một lời hứa (các anh sẽ thấy). Họ đă đến, tức là rời bỏ vị trí, quan điểm, lập trường của họ, để đi vào vị trí, quan điểm, lập trường của Đức Giêsu, và họ đă “xem thấy”. Họ đă nhận ra nơi Đức Giêsu đang ở thật sự.

* Anrê (40-42a)

Đến đây, tác giả cho biết một trong hai môn đệ ấy là Anrê, em của Simôn Phêrô. Truyền thống và nhiều nhà chú giải hiện đại nghĩ rằng người môn đệ vô danh kia chính là người môn đệ Chúa thương mến. Truyền thống cũng đă đồng hóa tác giả TM IV với người môn đệ Chúa thương mến và đồng hóa người môn đệ Chúa thương mến với Gioan, con ông Dêbêđê. Các học giả Kinh Thánh hiện đại khá dè dặt đối với các kiểu đồng hóa này. Dù sao, không có ǵ chắc chắn để chúng ta có thể đồng hóa người môn đệ vô danh trong Ga 1,35-39 với con ông Dêbêđê (Giáo sư Boismard nghĩ là Philípphê). Quả thế, nếu con ông Dêbêđê là bạn của Anrê vào dịp họ được gọi làm môn đệ, th́ đây hẳn là lần duy nhất trong toàn bộ Tân Ước, Gioan con ông Dêbêđê đi đôi với Anrê. Thông thường Gioan đi đôi với anh là Giacôbê (x. chẳng hạn Mt 4,21; Mc 3,17; Lc 5,10…), c̣n Anrê th́ đi đôi với anh là Phêrô (x. Ga 1,40-42). Simôn Phêrô chưa xuất hiện, nhưng v́ ông được biết nhiều, nên chỉ cần nêu tên ông ra là có thể xác định được Anrê. Trong truyền thống của Họi Thánh sơ khai, Anrê chỉ là em của Phêrô thôi (Mt 4,18; 10,2; Mc 1,16 (29); Lc 6,14). Tuy nhiên tác giả TM IV có cách phác họa riêng Anrê.

Trong các TMNL, tên Anrê luôn xuất hiện trong một danh sách. Danh sách này có khi chỉ có hai tên (Mt 4,18; Mc 1,16.29), có khi bốn tên (Mc 3,18; Cv 1,13), có khi mười hai tên (Mt 10,2; Mc 3,13; Lc 6,14), nhưng không cho thấy Anrê có phận vụ ǵ cả. Anrê chỉ là em và bạn đồng hành của Phêrô hoặc là một trong Nhóm Mười Hai. Nhưng với TM IV, Anrê được phác họa ra như một người môn đệ đích thực của Đức Giêsu. Thậm chí ông c̣n là một môn đệ có điều ǵ đó mà nói ra. Ông nói với anh ḿnh (Ga 1,41), và ông nói với Đức Giêsu (Ga 6,9; x. 12,22). Rơ ràng là tác giả có một “luận đề về đời môn đệ” (Ga 1,35-39) và ngài t́m cách minh họa luận đề này bằng “ví dụ Anrê”.

Đối với ngài, Anrê là một con người bằng xương bằng thịt, xuất thân từ một thành phố có thật: Bétxaiđa (Ga 1,44), một thành của miền Galilê (Ga 12,21). Anrê là một môn đệ đă đi theo trọn chương tŕnh về đời môn đệ. Ông đă nghe lời chứng về Đức Giêsu. Ông đă bước theo Đức Giêsu. Ông đă nêu chứng từ về Đức Giêsu cho những người khác. Nhận lời chứng về Đức Giêsu, trở thành một môn đệ, và cống hiến chứng từ về Đức Giêsu cho những người khác như một cách diễn tả đời môn đệ của ḿnh, đây là cái pattern (mô h́nh đơn giản) thông thường về đời môn đệ theo cái nh́n của TM IV. Cũng như Anrê có điều ǵ đó mà nói về Đức Giêsu cho anh ḿnh (Ga 1,41), Philípphê cũng có điều ǵ đó mà nói về Đức Giêsu cho Nathanaen (Ga 1,45), và người phụ nữ Samari cũng có điều ǵ đó mà nói về Đức Giêsu cho các dân trong thành của bà (Ga 4,29.39). Trong cái chuỗi phản ứng từ chứng từ đến chứng từ này, Tin Mừng tiếp tục được loan báo và người ta có thể tin.

Tác giả ghi nhận là “trước hết (prôton), ông đi t́m gặp (heuriskei) anh ḿnh” (Ga 1,41). Điều đầu tiên mà người môn đệ mới này đă làm là đi t́m anh ḿnh và nói về Đức Giêsu cho ông. Đă được đưa vào trong “phong trào” của các môn đệ Đức Giêsu, Anrê phải kể cho ai đó về Đức Giêsu, và anh ông là Simôn là người may mắn hưởng nhờ chứng từ của ông đầu tiên. “Chúng tôi đă t́m thấy Đấng Mêsia”. Một lần nữa, tác giả dịch một công thức Híp-ri ra tiếng Hy Lạp: “nghĩa là Đấng Kitô”. V́ tác giả cho thấy Anrê làm chứng cho Đức Giêsu là Đấng Mêsia (Kitô), ta có một sự xác nhận là lời chứng của ông Gioan nói rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa (Ga 1,34) là chứng từ về tư cách Mêsia của Người. Qua cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu, Anrê đă nhận ra sự thật của lời chứng của ông Gioan. Trước đây, Anrê đă được mô tả như là một người đang đi t́m (Ga 1,38); bây giờ ông được giới thiệu như là người đă t́m thấy. Kẻ đi t́m đă t́m thấy nơi Đức Giêsu điều ông vẫn đang đi t́m lâu nay.

Lúc đầu Anrê đă gọi Đức Giêsu là Rabbi, “thầy của con”, bây giờ ông gọi Người là Mêsia, “Đấng được xức dầu”. Khi tác giả phác họa các môn đệ thưa với Đức Giêsu như một rabbi, thường ngài mô tả cho thấy các môn đệ này đến với Đức Giêsu và đặt một câu hỏi (Ga 1,38; 6,25; 9,2;11,8) để được chỉ giáo thêm. Đấy là thói quen của các học tṛ Do Thái. Các môn đệ ra khỏi cuộc gặp gỡ, đă học thêm được điều ǵ từ nơi thầy. Đây là trường hợp của Anrê, cũng như sau này là trong của Nathanaen (Ga 1,49) và Maria Mácđala (20,16.18).

Nói rằng tác giả coi Anrê là một môn đệ đích thực của Đức Giêsu, điều này được nêu rơ qua lời tuyên xưng đức tin của ông vào Đức Giêsu. Ông công bố: “Chúng tôi đă đă t́m thấy (heurêkamen) Đấng Mêsia” (Ga 1,41). Ở b́nh diện tường thuật, “chúng tôi” đây là Anrê và người môn đệ vô danh. Ở một b́nh diện sâu hơn, “chúng tôi” đây, theo truyền thống Gioan, là toàn thể nhóm của tác giả đang tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu Mêsia qua môi miệng Anrê.

Như thế, trong bài tường thuật rất ngắn về vai tṛ của Anrê (Ga 1,[35-39].40-41), tác giả phác họa Anrê như là người môn đệ đích thật. Điều đáng lưu ư, đó là Anrê được thúc đẩy mạnh mẽ bởi lư tưởng dấn thân làm môn đệ đến nỗi ông đi t́m anh để kể về Đức Giêsu và đưa anh tới với Đức Giêsu. Nếu có một nét căn bản, không thay đổi, mà TM IV rút ra được từ dung mạo Anrê, đó là Anrê đưa người ta đến với Đức Giêsu.

* Simôn (42b)

Simôn Phêrô là một dung mạo quen thuộc với độc giả, v́ ông được nêu tên như thế (Ga 1,40), dù sau đó hai câu, tác giả xác định là tên thật của ông là Simôn (Ga 1,42), c̣n Phêrô là biệt danh Đức Giêsu ban cho ông.

Simôn được em là Anrê giới thiệu về Đức Giêsu là Đấng Mêsia rồi cũng được em giới thiệu với Đức Giêsu. Như thế, con đường Simôn Phêrô theo để đến với Đức Giêsu là con đường thông thường: ông được một người đă tin làm chứng và đưa đến với Đức Giêsu; ông chấp nhận chứng từ đó và đích thân đến gặp Đức Giêsu và khám phá ra quan hệ duy nhất giữa ông với Ngài.

Vậy Simôn Phêrô là một môn đệ khác của Đức Giêsu. Nhưng có điều ǵ đó chỉ có nơi người môn đệ này. Được đưa đến với Đức Giêsu nhờ lời tuyên xưng của em vào Đấng Mêsia, Phêrô được Đức Giêsu ngỏ lời với theo cách huyền bí: “Anh là Simôn, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha” (Ga 1,42). Công thức này, được Đức Giêsu nói ra trong khi Ngài nh́n ông, tương tự công thức mạc khải có ở Ga 1,29.36.47; 19,26-27.

Đức Giêsu đặt cho Simôn một tên mới, tác giả ghi nhận điểm này để nêu bật quan hệ có một không hai giữa Simôn Phêrô và Đức Giêsu, nhưng cũng để cho thấy Đức Giêsu có một uy quyền. Khi đặt tên cho Phêrô, Đức Giêsu cũng c̣n muốn xác định cho ông một căn tính mới, một vai tṛ mới trong cuộc sống, thậm chí một định mệnh mới (x. Abram và Giacóp: St 32,38; 35,10). Nói đến tầm quan trọng của tên mới của Simôn, chúng ta đều nhớ đến đoạn văn Mt 16,15-19. So với hoạt cảnh tương đối dài đó được Mt mô tả, bản văn của TM IV thật quá ngắn; nó chỉ tương tự với những câu ngắn nói về việc đổi tên ở Mt 10,2; Mc 3,16 và Lc 6,14, chứ không sánh được với bản văn Mt 16. Có thể nói kịch bản này là do tác giả TM IV sáng tác ra cho phù hợp với phần tường thuật của ch. 1 của TM. Tuy nhiên, tác giả không suy diễn ǵ về việc đổi tên hay về ư nghĩa của tên mới cả. Ngài chỉ dịch tên A-ram mới “Kêpha” thành một tên Hy Lạp mới tương đương là “Phêrô” (Petros) thôi. Ngài cũng chẳng nói ǵ đến tảng đá, và càng không nói đến Họi Thánh xây trên một tảng đá. Ngài cũng không có một suy tư ǵ về vai tṛ của Phêrô như người giữ cửa với quyền ch́a khóa. Dù sao, đối với tác giả, tên mới này quan trọng, bởi v́ ngài thường xuyên gắn nó vào tên Simôn (trừ hai lần chỉ có tên Simôn, tất nhiên: Ga 1,41.42, và vài lần chỉ có tên Phêrô: 1,44; 13,37; 18,11.16.17.18.26.27; 20,3.4; 21,7.17.20.21). Chúng ta sẽ có một dung mạo Simôn rơ ràng hơn khi đọc trọn TM IV.

+ Kết luận

Trong bài tường thuật này, có những yếu tố chính của một ơn gọi làm môn đệ: 1) gặp gỡ đích thân Đức Giêsu; 2) khám phá ra Đức Giêsu là một con người siêu phàm; 3) cuối cùng, thay đổi định mệnh. Cuộc đời mỗi người là một chuyến “đi t́m” Đức Giêsu, được Người dẫn dắt, rồi sau khi đă thực sự “t́m ra, t́m thấy” Người, th́ đi giới thiệu cho người khác. Đấy là một chu kỳ giúp mọi người tin Đức Giêsu và được cứu độ.

5.- Gợi ư suy niệm

1. Chúng ta nghĩ đến sự thẳng thắn và cương trực của Gioan Tẩy Giả. Ông đă làm chứng về Đức Giêsu, đă giới thiệu Người là Đấng Mêsia. Sau đó, ông đă chứng kiến các môn đệ rời bỏ ông mà đi theo Đức Giêsu: điều ông nói đang được thể hiện, “Người phải nổi bật lên, c̣n thầy phải lu mờ đi” (3,30). Báo trước những thất thế của ḿnh đă là khó, nhưng vẫn c̣n dễ hơn là b́nh thản sống những thất thế đó khi chúng xảy đến. Gioan biết ḿnh là ai và đă can đảm sống sứ mạng cho đến cùng.

2. Lời mời gọi và lời hứa của Đức Giêsu hết sức quan trọng: “Hăy đến và các anh sẽ thấy!”. Tất cả mọi chuyện đều nhắm đến cuộc gặp gỡ sống động và riêng tư. Đức Giêsu không giao cho những kẻ đi theo Người một quyển sách chứa đựng các giáo thuyết và điều luật phải học và phải tuân giữ, nhưng Người kêu gọi họ đi vào một tương quan riêng tư với Người, đi vào hiệp thông với Người. Phần họ, họ không được giữ một khoảng cách an toàn với Người để mà chỉ việc quan sát, nhưng phải dấn thân vào, phải đi với Người, phải đưa bước trên nẻo đường Người đi.

3. Có những thành kiến nào có thể ngăn cản người ta nhận biết Đức Giêsu? Có điều ǵ đang ngăn cản tôi, về phương diện trí thức hoặc t́nh cảm, khiến tôi không nhận ra Người là Con Thiên Chúa, ngang bằng với Thiên Chúa? Lâu nay tôi tự hào là ḿnh đi theo Đức Giêsu, ḿnh là môn đệ của Người, thật ra quan hệ của tôi với Người có thật sự sống động? V́ sao? Dường như tôi chưa thật sự “đến” với Người, nên cũng chưa thật sự “thấy” được điều Người muốn mạc khải cho?

4. Anrê không gặp Simôn Phêrô t́nh cờ, nhưng đă chủ ư đi t́m ông này, để đưa ông tham dự vào kinh nghiệm mới mẻ và lạ lùng của ông: “Chúng tôi đă gặp Đấng Mêsia”. Anrê không chỉ giới hạn vào việc làm chứng, ông c̣n dẫn Simôn đến gặp Đức Giêsu. Có vô số nẻo đường cụ thể đưa người ta đến với Đức Giêsu: tôi nghĩ đến những nẻo đường đă đưa tôi đến với Người. Trên các nẻo đường này, có lời chứng và gương sáng của những người khác góp vào. Nhưng chắc chắn phần quan trọng vẫn là kinh nghiệm thiết thân tôi có về Đức Giêsu. Hôm nay, phải chăng tôi là một Anrê đưa được người khác đến với Đức Giêsu, không phải chỉ bằng lời nói suông, mà bằng chính kinh nghiệm sống tôi đă và vẫn đang có?

------------------

[1] Midrash: Một cách chú giải Kinh Thánh theo kiểu các kinh sư. Thường các kinh sư lấy các câu văn Cựu Ước rồi diễn dịch, và ghép vào bản dịch của ḿnh những chi tiết mang tính huyền thoại hoặc tưởng tượng, để giáo dục dân chúng.

 

55. Lắng nghe - Trầm Thiên Thu

William Arthur Ward (1921-1994) nhận định: “Trước khi nói, hăy lắng nghe; trước khi viết, hăy suy nghĩ; trước khi chi tiêu, hăy kiếm được; trước khi đầu tư, hăy t́m hiểu; trước khi phê phán, hăy chờ đợi; trước khi cầu nguyện, hăy tha thứ; trước khi bỏ cuộc, hăy thử làm; trước khi nghỉ hưu, hăy tiết kiệm; trước khi chết, hăy cho đi”. Thính giác là một trong ngũ quan, nhưng là giác quan quan trọng nhất. Lắng nghe là một nghệ thuật, v́ c̣n phải biết cách nghe.

Có thể nói rằng phải thực sự khiêm nhường mới có thể lắng nghe. Nói là gieo, nghe là gặt. Nghe có lợi hơn nói: Nói ít th́ sai ít, nói nhiều th́ sai nhiều, không nói th́ không sai. Người ta ví von:“Người nói hay không bằng người nghe giỏi”.

Công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential có một slogan thật thú vị: “Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu”. Dĩ nhiên lời đó không thể tuyệt đối v́ nặng tính “quảng cáo”, có chút ǵ đó là “nổ” mà thôi, nhưng qua đó, chúng ta biết được rằng việc “lắng nghe” có tầm quan trọng riêng. Lắng nghe là nghe thấy và chú ư, chứ không nghe cho “có lệ”, nghe v́ “không điếc”. Nghe và hiểu có hệ lụy với nhau.

Tuy nhiên, hai động thái “lắng nghe” và “thấu hiểu” lại có một khoảng cách nhất định, đồng thời c̣n có những mức độ khác nhau, thậm chí có thể chúng ta vẫn nghe nhưng không hiểu (x. Lc 8:10), và Chúa Giêsu đă phải nhắc nhở nhiều lần: “Ai có tai th́ nghe” [ai có tai nghe th́ (hăy) nghe] (Mt 11:15; Mt 13:9; Mt 13:43; Mc 4:9; Mc 4:23; Mc 7:16; Lc 8:8; Lc 14:35; Kh 13:9).

Tŕnh thuật 1 Sm 3:3-10 cho chúng ta biết về câu chuyện “nổi tiếng” về việc “lắng nghe” và “mau mắn đáp lại” của ngôn sứ “nhí” Samuen. Chuyện kể về một đêm nọ, ông Êli đang ngủ, mà mắt ông th́ mờ, ông không c̣n thấy rơ nữa. Đèn của Thiên Chúa chưa tắt và Samuen đang ngủ trong đền thờ Đức Chúa, nơi có đặt Ḥm Bia Thiên Chúa. Bất ngờ, Đức Chúa gọi Samuen. Cậu thưa: “Dạ, con đây!”. Rồi chạy lại với ông Êli và thưa: “Dạ, con đây, thầy gọi con”. Ông bảo rằng ông không gọi cậu, cứ về ngủ đi”. Cậu đi ngủ, rồi lại có tiếng gọi lần nữa. Samuen lại dậy ngay và đến với ông Êli, nhưgn ông vẫn bảo là không gọi cậu.

Trẻ người, non dạ, nên Samuen chưa biết Đức Chúa, và lời Đức Chúa chưa được mặc khải cho cậu. Rồi cậu lại nằm ngủ, Đức Chúa lại gọi Samuen lần thứ ba. Cậu lại dậy và đến với ông Êli. Bấy giờ ông Êli hiểu là Đức Chúa gọi cậu nên ông bảo Samuen đi ngủ, hễ có ai gọi th́ thưa: “Lạy Đức Chúa, xin Ngài phán, v́ tôi tớ Ngài đang lắng nghe”. Samuen về ngủ, và Đức Chúa lại đến, đứng đó và gọi như những lần trước: “Samuen! Samuen!”. Cậu liền thưa: “Xin Ngài phán, v́ tôi tớ Ngài đang lắng nghe” (1 Sm 3:10).

Đó là câu nói được trích dẫn nhiều mỗi khi nói đến việc thi hành Thánh Ư Chúa. Thi hành mau mắn và vui vẻ chứ không miễn cưỡng như “bị triệt buộc”. Thiên Chúa ban cho chúng ta quyền tự do hoàn toàn, Ngài không ép buộc ai làm bất cứ điều ǵ, v́ thế Ngài rất đề cao sự tự nguyện, hành động v́ yêu mến. Samuen đă lắng nghe, thấu hiểu, và mau mắn làm theo Ư Chúa, thế nên Samuen được Thiên Chúa bảo vệ: “Samuen lớn lên. Đức Chúa ở với ông và Người không để cho một lời nào của Người ra vô hiệu” (1 Sm 3:19). Samuen vô cùng diễm phúc!

Diễm phúc không là t́nh trạng “tự nhiên” mà là động thái “có điều kiện” với ḷng tự nguyện: Tổ phụ Ápraham đă “xin vâng” hoàn toàn khi rời quê hương đến Đất Hứa, ông không hề ngần ngại sát tế chính con trai ḿnh, và Đức Maria cũng diễm phúc v́ lời “xin vâng” vô điều kiện. Lắng nghe – thấu hiểu – hành động, đó là “chuỗi liên kết” như một tam-giác-đều bất biến vậy, trong đó đă tiềm ẩn và mặc nhiên có nhân đức khiêm nhường – nền tảng của mọi nhân đức.

Có điều “trái khoáy” là chúng ta luôn muốn người khác lắng nghe ḿnh nhưng ḿnh lại không muốn lắng nghe người khác. Sao vậy nhỉ? Đó là v́ ích kỷ, v́ “cái tôi” lớn quá, luôn tưởng ḿnh là “số dzách” hơn người khác về mọi lĩnh vực. Thậm chí cả với Thiên Chúa mà chúng ta cũng dám làm vậy. Thực sự chúng ta to gan, lớn mật tới mức dám làm vậy ư? Thật, không oan đâu! Chúng ta luôn xin Ngài lắng nghe ḿnh (Tv 30:11; Tv 51:3; Tv 55:2; Tv 77:2; Tv 86:6; Tv 88:3; Tv 141:1; Tv 143:1), nhưng hiếm khi chúng ta “nhận lỗi” (Tv 51:5) hoặc “lắng nghe điều Thiên Chúa phán” (Tv 85:9), nhất là khi ư Chúa khác hẳn ư ḿnh.

Chắc hẳn ai cũng đủ kinh nghiệm để khả dĩ biết rằng “đời là bể khổ”, thế nên lúc nào chúng ta cũng phải cầu xin Thiên Chúa thương xót: “Tôi đă hết ḷng trông đợi Chúa, Người nghiêng ḿnh xuống và nghe tiếng tôi kêu” (Tv 40:2). Và rồi chúng ta phấn khởi lắm: “Chúa cho miệng tôi hát bài ca mới, bài ca tụng Thiên Chúa chúng ta. Thấy thế, nhiều người sẽ kính sợ và tin tưởng vào Chúa” (Tv 40:4). Thế nhưng chúng ta lại thường “ngủ quên trong chiến thắng”, chẳng khác chi chín người vô ơn bạc nghĩa trong chuyện “mười người phong hủi” (Lc 17:11-21).

Tác giả Thánh Vịnh cho biết rằng Thiên Chúa không thích tế phẩm, lễ vật, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Ngài không đ̣i chi, không cần ǵ, v́ Ngài có tất cả. Ngài chỉ muốn một điều là chúng ta PHẢI biết mau mắn thân thưa: “Này con xin đến! Con thích làm theo thánh ư, và ấp ủ luật Chúa trong ḷng, lạy Thiên Chúa của con” (Tv 40:7-9). Chúng ta càng thu nhỏ ḿnh th́ càng được Ngài xót thương. Và đừng quên điều này: “Đức công chính của Ngài, con loan truyền giữa ḷng đại hội; lạy Chúa, Ngài từng biết: con đâu có ngậm miệng làm thinh” (Tv 40:10).

Chẳng có ǵ vĩnh cửu v́ mọi sự đều có lúc, có thời mà thôi (x. Gv 3:1-8). Ngay cả sự sống và sự tự do của chúng ta cũng vậy thôi, tới một lúc nào đó sẽ không c̣n. Thánh Phaolô nói: “Tôi được phép làm mọi sự, nhưng không phải mọi sự đều có ích. Tôi được phép làm mọi sự, nhưngtôi sẽ không để sự ǵ làm chủ được tôi” (1 Cr 6:12). Thật không dễ để có thể nhận thức và tự chủ được như vậy, chứng tỏ phải có sự giằng co rất mănh liệt. Thánh nhân giải thích cụ thể:“Thức ăn dành cho bụng, và bụng dành cho thức ăn. Thiên Chúa sẽ huỷ diệt cả cái này lẫn cái kia. Nhưng thân xác con người không phải để gian dâm, mà để phụng sự Chúa, v́ Chúa làm chủ thân xác. Thiên Chúa đă làm cho Chúa Kitô sống lại; chính Người cũng sẽ dùng quyền năng của ḿnh mà làm cho chúng ta sống lại. Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao? Tôi lại lấy phần thân thể của Đức Kitô mà làm phần thân thể của người kỹ nữ sao? Không đời nào!” (1 Cr 6:13-15).

Chưa cần nói vấn đề tinh thần, các vật chúng ta đang sở hữu cũng không là của chúng ta măi măi. Chẳng hạn tiền bạc, nhà cửa, xe cộ,… Những thứ chúng ta gọi là “của ḿnh”, tức là ḿnh sở hữu nó. Đúng vậy, chúng ta sở hữu chúng v́ chúng ta có quyền quản lư chúng, nhưng nó măi măi là của chúng ta, v́ một lúc nào đó chúng ta không được sở hữu chúng nữa. Phũng phàng ư, thất vọng ư, buồn ư? Đời là thế nên nó thế đấy! Sự sống chúng ta đang có mà rồi cũng chẳng giữ được th́ làm sao giữ những thứ khác?

V́ thế, Thánh Phaolô khuyên: “Ai đă kết hợp với Chúa th́ nên một tinh thần với Người. Anh em hăy tránh xa tội gian dâm. Mọi tội người ta phạm đều ở ngoài thân xác ḿnh, c̣n kẻ gian dâm th́ phạm đến chính thân xác ḿnh. Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thầnsao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đă ban cho anh em. Như thế, anh em đâu c̣n thuộc về ḿnh nữa, v́ Thiên Chúa đă trả giá đắt mà chuộc lấy anh em. Vậy anh em hăy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em” (1 Cr 6:17-20). Thân xác đủ thứ nhơ nhớp, nói ra mà thấy ngượng miệng, nhưng chính cái nhơ nhớp hèn hạ đó lại được Thiên Chúa dùng làm Đền Thờ để Ngài ngự vào – thiêng liêng và cụ thể (Thánh Thể). Chúng ta là “đền thờ” th́ chúng ta phải cố gắng lắng nghe và thực thi Thánh Ư Ngài. Bức tượng không thể phản đối nhà điêu khắc!

Ước ǵ mỗi chúng ta đều biết xác định rạch ṛi: “Tuân theo thánh ư Ngài, con vui sướng hơn là được tiền rừng bạc bể” (Tv 119:14). Tâm niệm được như vậy th́ chẳng có ǵ lo ngại. Tất cả đều NHỜ Ngài, VỚI Ngài và TRONG Ngài!

Hôm trước, khi thấy Đức Giêsu tiến về phía ḿnh, ông Gioan liền nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian. Chính Người là Đấng tôi đă nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, v́ có trước tôi” (Ga 1:29-30). Và ông đă làm chứng với mọi người: “Tôi đă thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người” (Ga 1:32).

Hôm sau, ông Gioan lại đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông và thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa” (Ga 1:36). Nghe vậy, hai môn đệ kia liền đi theo Đức Giêsu. Đức Giêsu quay lại, thấy các ông đi theo ḿnh th́ hỏi: “Các anh t́m ǵ thế?”. Họ đáp:“Thưa Thầy, Thầy ở đâu?”. Người bảo họ: “Đến mà xem”. Họ đă đến xem chỗ Ngài ở, và ở lại với Ngài ngày hôm ấy. Chắc hẳn nơi ở của Chúa Giêsu giản dị lắm, khó nghèo lắm, nhưng họ vẫn theo Ngài. Cái “thấy” của họ là sự vĩ đại của Ngài, họ sẵn sàng “lắng nghe” và “thực hiện” như Ngài.

Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười. Ông Anrê, anh ông Simôn Phêrô, là một trong hai người đă nghe ông Gioan nói và đi theo Đức Giêsu. Trước hết, ông gặp em ḿnh là ông Simôn và nói:“Chúng tôi đă gặp Đấng Mêsia” (Ga 1:41). Rồi ông dẫn em ḿnh đến gặp Đức Giêsu. Đức Giêsu nh́n ông Simôn và nói:“Anh là Simôn, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha” (Ga 1:42). Thánh sử Gioan giải thích rằng chữ Kêpha có nghĩa là Đá, đồng nghĩa với tên Phêrô (Pièrre = Đá).

Dù chỉ là ngư dân, chuyên chài lưới, nhưng hẳn là lăo ngư Phêrô “có tướng có tá” lắm, chắc hẳn “tướng mạo” như ông phải có ǵ đó đặc biệt, v́ Thầy Giêsu đă “thấu suốt” cả tâm địa của ông bộc trực: Nóng nảy nhưng tốt bụng. Và Ngài OK liền, “chấm” ngay. Thật vậy, dù tội chối Thầy lớn lắm, không chối một lần mà chối tới ba lần, nhưng không sao, “chuyện nhỏ” thôi, v́ Chúa Giêsu vẫn luôn giàu ḷng thương xót và cho ông “bù lỗ” bằng ba lần tuyên xưng: “Thưa Thầy, Thầy biết rơ mọi sự. Thầy biết rơ con yêu mến Thầy!” (Ga 21:15-18). Từ đó, lăo ngư Phêrô trở thành Giáo hoàng tiên khởi của Giáo Hội lữ hành tại trần gian.

Hôm nay là ngày bắt đầu tuần lễ cầu cho sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu. Mỗi người là một cá nhân, với tính cách khác nhau, nhưng mỗi người không là một ốc đảo, mà luôn phải hài ḥa trong một tổng thể, mang tính liên đới đa dạng, kể cả tội lỗi cũng có tính liên đới. Sự hiệp nhất rất quan trọng, cần thiết đối với mọi tổ chức hoặc nhóm. Ngay trong gia đ́nh cũng vậy, thiếu sự đồng tâm nhất trí th́ “ông nói gà, bà nói vịt”, gia đ́nh khó có thể là một tổ ấm đích thực. Các cộng đoàn tu cũng vậy, mỗi người mỗi phách th́ không thể là một cộng đoàn. Mỗi thành viên có biết lắng nghe th́ mới khả dĩ hiệp nhất.

Đặc biệt năm nay là năm Tân Phúc Âm Hóa các giáo xứ và các cộng đoàn. Hai loại h́nh này là dạng “đời sống chung”, cần biết lắng nghe nhau để hiểu nhau và cùng nhau thực hiện điều mong muốn của Thầy Chí Thánh Giêsu trong Vườn Dầu: “Xin cho họ nên một”. Tính “nên một” được Chúa Giêsu đề cập ba lần (x. Ga 17:1-24), chứng tỏ đó là tính chất đặc biệt lắm, v́ đó là tính hiệp nhất của Chúa Ba Ngôi.

Lạy Thiên Chúa, xin dạy chúng con biết những quyết định của Ngài (Tv 119:108), xin giúp chúng con biết mau mắn lắng nghe lời Ngài dạy chúng con mọi nơi và mọi lúc, xin cũng giúp chúng con biết mau mắn đáp lại và sẵn sàng thực thi Thánh Ư Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.